
Hòn đảo tiền mã hóa phương Đông: Hệ thống thuế và quản lý tài sản mã hóa của Đài Loan
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Hòn đảo tiền mã hóa phương Đông: Hệ thống thuế và quản lý tài sản mã hóa của Đài Loan
Khu vực Đài Loan, Trung Quốc thể hiện đặc điểm vừa cởi mở vừa thận trọng trong thái độ đối với tài sản mã hóa.
Tác giả: FinTax
1. Mở đầu
Khu vực Đài Loan của Trung Quốc thể hiện thái độ vừa cởi mở vừa thận trọng đối với tài sản mã hóa. Trong những năm gần đây, việc sử dụng và giao dịch tài sản mã hóa tại Đài Loan ngày càng gia tăng, mức độ tham gia của các tổ chức tài chính và doanh nghiệp liên quan cũng từng bước nâng cao. Đài Loan nhận thức rõ tính chất đầu cơ cao trong lĩnh vực tài sản mã hóa cùng với rủi ro tiềm tàng về rửa tiền và tài trợ khủng bố, do đó đã thực hiện các biện pháp từng bước hoàn thiện công tác quản lý giám sát. Ủy ban Giám sát Tài chính (sau đây gọi tắt là FSC) tích cực thúc đẩy việc chuẩn hóa quản lý các nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo (VASP) thông qua việc ban hành các chính sách liên quan theo diễn biến thị trường. Về thuế, chính sách thuế đối với tài sản mã hóa của chính quyền Đài Loan cũng đang dần được làm rõ, nhằm tránh can thiệp quá mức vào thị trường đồng thời nỗ lực tạo ra môi trường nộp thuế công bằng và minh bạch.
2. Hệ thống thuế cơ bản tại Đài Loan
Khu vực Đài Loan có tổng cộng 19 loại thuế, được phân thành hai cấp theo quyền lợi thu thuế gồm "thuế quốc gia" và thuế địa phương (thuế cấp thành phố trực thuộc trung ương và tỉnh). Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế Đài Loan, trong các loại "thuế quốc gia", ngoại trừ thuế quan do Cục Hải quan Bộ Tài chính Đài Loan chịu trách nhiệm thu, các loại thuế còn lại đều do Cục Thuế Quốc gia quản lý; thuế địa phương do cơ quan thuế chính quyền thành phố trực thuộc trung ương và chính quyền các huyện (thị) trực thuộc tỉnh quản lý. Bài viết này sẽ khái quát ngắn gọn ba loại thuế liên quan đến tài sản mã hóa gồm thuế thu nhập, thuế kinh doanh và thuế giao dịch chứng khoán như sau.
2.1 Thuế thu nhập
Luật Thuế Thu Nhập là văn bản pháp lý cơ bản hiện hành để thu thuế thu nhập tại Đài Loan, luật này chia thuế thu nhập thành hai loại: thuế thu nhập tổng hợp và thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế thu nhập tổng hợp tại Đài Loan có thể so sánh tương tự với thuế thu nhập cá nhân tại đại lục Trung Quốc, là loại thuế đánh vào các khoản thu nhập khác nhau của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), bao gồm thu nhập từ lương, thu nhập lãi, thu nhập cổ tức, thu nhập cho thuê, thu nhập từ giao dịch tài sản... Cơ sở tính thuế là thu nhập ròng tổng hợp cả năm của người nộp thuế, tức là phần còn lại sau khi tổng thu nhập trừ đi các khoản miễn thuế, khấu trừ và các khoản khấu trừ đặc biệt. Người nộp thuế cư trú phải khai quyết toán thuế thu nhập tổng hợp từ ngày 1 đến ngày 31 tháng 5 năm tiếp theo, đồng thời phải kê khai gộp thu nhập, mức miễn thuế và số thuế được khấu trừ của vợ/chồng cùng người thân được nuôi dưỡng.
Về mức thuế suất, thuế thu nhập tổng hợp tại Đài Loan áp dụng biểu thuế lũy tiến gồm bốn bậc: 5%, 12%, 20%, 30%, 40%. Ngoài ra, các mức miễn thuế, mức khấu trừ tiêu chuẩn, mức khấu trừ đặc biệt cho thu nhập lương, mức khấu trừ đặc biệt cho người khuyết tật, các bậc thuế suất và mức miễn thuế định mức đối với thu nhập thôi việc theo Luật Thuế Thu Nhập sẽ được điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng khi chỉ số giá tiêu dùng tăng tích lũy đạt 3% trở lên so với năm điều chỉnh lần trước. Năm 2025, mức miễn thuế thu nhập tổng hợp tại Đài Loan là 97.000 Đài tệ.
Thuế thu nhập doanh nghiệp tại Đài Loan có thể so sánh tương tự với thuế thu nhập doanh nghiệp tại đại lục Trung Quốc, là loại thuế đánh vào thu nhập hoạt động kinh doanh của người nộp thuế trong một niên độ kế toán, tuy nhiên phạm vi người nộp thuế ngoài pháp nhân công ty còn bao gồm hình thức tư doanh, hợp danh và hợp tác xã, phạm vi khá rộng. Theo quy định của Luật Thuế Thu Nhập Đài Loan, mọi doanh nghiệp kinh doanh tại Đài Loan, bao gồm doanh nghiệp công, tư hoặc công-tư hợp doanh, nhằm mục đích sinh lời, có biển hiệu kinh doanh hoặc địa điểm hoạt động, bao gồm các hình thức như tư doanh, hợp danh, công ty và các tổ chức khác hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, chăn nuôi, khai khoáng, luyện kim..., đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Cơ sở tính thuế là lợi nhuận thuần sau khi lấy tổng doanh thu năm trừ đi các chi phí, tổn thất và các loại thuế.
Về mức thuế suất, doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế hàng năm dưới 120.000 Đài tệ được miễn thuế; doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế hàng năm từ 120.000 đến 200.000 Đài tệ chịu thuế suất 50% (chỉ đánh trên phần vượt quá 120.000); doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế hàng năm trên 200.000 Đài tệ chịu thuế suất 20%.
2.2 Thuế kinh doanh
Luật Thuế Kinh Doanh Kiểu Cộng Thêm và Không Cộng Thêm (sau đây gọi tắt là Luật Thuế Kinh Doanh) là văn bản pháp lý cơ bản hiện hành để thu thuế kinh doanh tại Đài Loan, luật này chia thuế kinh doanh thành hai loại: thuế kinh doanh kiểu cộng thêm và thuế kinh doanh kiểu không cộng thêm, phạm vi đánh thuế bao gồm bán hàng hóa, bán dịch vụ và nhập khẩu hàng hóa.
Thuế kinh doanh kiểu cộng thêm tại Đài Loan lấy giá trị tăng thêm trong quá trình bán hàng hóa hoặc dịch vụ làm cơ sở tính thuế, tức là đánh thuế theo chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra, mức thuế suất hiện hành là 5%. Từ năm 2025, ngưỡng chịu thuế là 50.000 Đài tệ đối với dịch vụ và 100.000 Đài tệ đối với hàng hóa. Ngoài ra, Luật Thuế Kinh Doanh còn có các quy định đặc biệt về các mặt hàng chịu thuế suất 0%, hoàn thuế cho doanh nghiệp nước ngoài, các trường hợp miễn thuế kinh doanh kiểu cộng thêm và hoàn trả số thuế nộp thừa. Người kinh doanh, trừ khi có quy định khác trong Luật Thuế Kinh Doanh, dù có hay không có doanh số, phải kê khai doanh số bán, số thuế phải nộp hoặc số thuế nộp thừa với cơ quan thuế quản lý trong vòng 15 ngày kể từ ngày bắt đầu kỳ kế tiếp, mỗi kỳ là 2 tháng.
Thuế kinh doanh kiểu không cộng thêm tại Đài Loan còn gọi là thuế kinh doanh theo tổng doanh thu, lấy doanh thu gộp từ bán hàng hóa hoặc dịch vụ làm cơ sở tính thuế, tức là đánh thuế theo tổng doanh thu. Theo Luật Thuế Kinh Doanh, phạm vi chịu thuế kinh doanh kiểu không cộng thêm bao gồm ngành tài chính, ngành ăn uống đặc biệt, người kinh doanh quy mô nhỏ và người kinh doanh được Bộ Tài chính quy định miễn kê khai doanh số, kê khai theo chu kỳ 2 tháng một lần, nếu có số thuế phải nộp thì phải nộp vào kho bạc trước rồi kèm theo biên lai nộp thuế để kê khai. Tuy nhiên, đối với người kinh doanh quy mô nhỏ và người kinh doanh được Bộ Tài chính quy định miễn kê khai doanh số, cơ quan thuế sẽ xác định số thuế, phát hành giấy nộp tiền thuế mỗi 3 tháng một lần để thông báo thanh toán.
2.3 Thuế giao dịch chứng khoán
Điều lệ Thuế Giao Dịch Chứng Khoán là văn bản pháp lý cơ bản hiện hành để thu thuế giao dịch chứng khoán tại Đài Loan, là loại thuế đánh vào người bán theo giá giao dịch mua bán. Phạm vi đánh thuế bao gồm các chứng khoán có giá, cụ thể là trái phiếu do các cấp chính quyền phát hành, cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các chứng khoán có giá khác được chính phủ phê duyệt cho phép chào bán công khai. Về mức thuế suất, cổ phiếu do công ty phát hành và các chứng chỉ hoặc giấy tờ thể hiện quyền cổ phiếu chịu thuế suất 3‰, trái phiếu doanh nghiệp và các chứng khoán có giá khác được chính phủ phê duyệt chịu thuế suất 1‰.
3. Tổng quan hệ thống thuế và quản lý tài sản mã hóa tại Đài Loan
3.1 Định tính tài sản mã hóa tại Đài Loan
Tại Đài Loan, phạm vi tài sản mã hóa và tài sản ảo là như nhau, bài viết này thống nhất dùng thuật ngữ "tài sản mã hóa", nhưng giữ nguyên tên gọi gốc trong các quy định liên quan. Việc định tính tài sản mã hóa tại Đài Loan có hai dạng: chứng khoán có giá và hàng hóa ảo, hai khái niệm này không mâu thuẫn. Việc định tính là chứng khoán có giá xuất phát từ lệnh Ủy ban Giám sát Tài chính do FSC ban hành năm 2019, theo đó xác định các tài sản mã hóa mang tính chất chứng khoán thuộc loại chứng khoán có giá, trong đó điều kiện mang tính chất chứng khoán gồm "có tính thanh khoản", "người góp vốn đầu tư", "đến từ cùng một dự án hoặc kế hoạch chung", "người góp vốn kỳ vọng thu lợi nhuận", "lợi nhuận chủ yếu phụ thuộc vào nỗ lực của người phát hành hoặc bên thứ ba"; tài sản mã hóa được định nghĩa là "sử dụng mật mã học, sổ cái phân tán hoặc các công nghệ tương tự khác để biểu thị giá trị có thể lưu trữ, trao đổi hoặc chuyển nhượng dưới dạng kỹ thuật số". Trong thông cáo báo chí năm 2024 của Ủy ban Giám sát Tài chính Đài Loan có tựa đề "FSC kêu gọi người dân thận trọng đánh giá rủi ro giao dịch tài sản ảo", FSC định nghĩa tài sản mã hóa là "hàng hóa ảo kỹ thuật số có tính đầu cơ cao, không phải tiền tệ, không có giá trị nội tại, không giới hạn biên độ tăng giảm giá giao dịch". Chúng tôi cho rằng mối quan hệ giữa hai cách định tính này là: tài sản mã hóa thông thường thuộc nhóm hàng hóa ảo, còn tài sản mã hóa có tính chất chứng khoán thì thuộc nhóm chứng khoán.
3.2 Tổng quan hệ thống thuế tài sản mã hóa tại Đài Loan
3.2.1 Thuế thu nhập
Cá nhân và doanh nghiệp đều phải nộp thuế thu nhập từ thu nhập giao dịch tài sản mã hóa, và tổn thất từ giao dịch tài sản mã hóa cũng được phép khấu trừ trước thuế. Cụ thể, doanh nghiệp thông thường khi tính thuế thu nhập từ tài sản mã hóa cần tuân thủ nguyên tắc kế toán tài chính chung, coi thu nhập giao dịch tài sản mã hóa là doanh thu, tổng hợp theo năm và tính số thuế phải nộp theo quy định liên quan của luật thuế Đài Loan. Các sàn giao dịch tài sản mã hóa thì tính theo thu nhập dịch vụ (phí nền tảng và hoa hồng giao dịch) trừ đi chi phí, phương pháp tính thuế tương tự cách xử lý thuế truyền thống trong lĩnh vực dịch vụ. Nếu là nhà đầu tư cá nhân, cá nhân đó phải nhập thu nhập từ giao dịch tài sản mã hóa vào thu nhập từ giao dịch tài sản, để tính số thuế thu nhập phải nộp.
Trong thực tiễn, do cơ quan thuế chỉ nắm được dữ liệu tiền vào và ra mà không có chi tiết giao dịch, nên không thể xác định rõ giá và số lượng mua/bán như thị trường tập trung chứng khoán, do đó không thể tính chi tiết thu nhập từng giao dịch. Vì vậy, thu nhập từ giao dịch tài sản mã hóa chỉ được tính khi rút tiền từ sàn giao dịch về tài khoản nhà đầu tư, còn chi phí chỉ tính theo số tiền gửi vào, tức là số vốn ban đầu chuyển từ tài khoản nhà đầu tư vào sàn giao dịch. Cách tính này có điểm chưa hợp lý, ví dụ như đối với trường hợp chưa bán hết tài sản mã hóa, việc tính chi phí cho phần đã bán nên dùng phương pháp xác định riêng, phương pháp FIFO hay bình quân gia quyền thì hiện chưa có quy định chính thức.
3.2.2 Thuế kinh doanh
Mua bán thường xuyên tiền mã hóa trong quản lý thuế thường liên quan đến vấn đề thuế kinh doanh. Tổ bán hàng của Cục Thuế Quốc gia Đài Bắc thuộc Bộ Tài chính trả lời trên diễn đàn mạng: "Lệnh Bộ Tài chính số 10904512340 ngày 31 tháng 1 năm 109 (2020): 'Hai là, cá nhân giao dịch tiền ảo qua mạng cần căn cứ sự thật từng trường hợp để xác định thuộc tính của tiền ảo, nếu thuộc hàng hóa (dịch vụ) kỹ thuật số thông thường, khi doanh số hàng tháng đạt ngưỡng chịu thuế kinh doanh (bán hàng hóa là 100.000 Đài tệ), cần đăng ký mã số thuế và nộp thuế kinh doanh theo quy định trên; nếu là công cụ thanh toán thì chưa nằm trong phạm vi chịu thuế kinh doanh'. Như vậy có thể thấy, khi tài sản mã hóa được bán như hàng hóa hoặc dịch vụ kỹ thuật số thông thường và đáp ứng điều kiện ngưỡng chịu thuế, thì phải nộp thuế kinh doanh'.
Cụ thể, nếu bên bán là thực thể thương mại tại Đài Loan thì phải nộp thuế GTGT 5% trên doanh thu; nếu bên bán là cá nhân tại Đài Loan, cá nhân đó cần đăng ký thuế và nộp thuế GTGT 5% trên doanh thu, trừ khi doanh số hàng tháng dưới 50.000 Đài tệ; sàn giao dịch tiền mã hóa phải nộp thuế kinh doanh 5% trên toàn bộ phí dịch vụ.
3.2.3 Thuế giao dịch chứng khoán
Giao dịch tài sản mã hóa có tính chất chứng khoán phải chịu thuế giao dịch chứng khoán. Quy định liên quan đến Phát hành Token Bảo đảm (Security Token Offering - STO) tại Đài Loan khá đầy đủ, người phát hành phải tuân thủ các văn bản pháp lý đặc biệt dành cho tiền mã hóa như "Quy định về nội dung công bố phát hành tiền ảo mang tính chất chứng khoán tại địa điểm kinh doanh của công ty chứng khoán", "Quy định quản lý hoạt động kinh doanh tự doanh tiền ảo mang tính chất chứng khoán của công ty chứng khoán"... cũng như các quy định chung về giao dịch chứng khoán như "Luật Giao Dịch Chứng Khoán", "Tiêu chuẩn quy định hệ thống kiểm soát nội bộ công ty chứng khoán", "Tiêu chuẩn địa điểm và thiết bị tại địa điểm kinh doanh của công ty chứng khoán và người hỗ trợ giao dịch chứng khoán"... mới được phép thực hiện nghiệp vụ STO.
Theo văn bản Bộ Tài chính Đài Loan số 10900005070 năm 2020: "Tiền mã hóa mang tính chất chứng khoán có mức huy động phát hành dưới 30 triệu Đài tệ và thực hiện theo quy định của Trung tâm Giao dịch OTC, thuộc loại chứng khoán có giá khác được chính phủ phê duyệt cho phép chào bán công khai theo Khoản 2 Điều 1 Điều lệ Thuế Giao Dịch Chứng Khoán, việc mua bán phải chịu thuế giao dịch chứng khoán 1‰ theo Khoản 2 Điều 2 cùng điều lệ", từ đó làm rõ bản chất chứng khoán và quy định thuế cho nghiệp vụ STO. Ngoài ra, vì nghiệp vụ STO thuộc phạm vi chứng khoán có giá theo Điều lệ Thuế Giao Dịch Chứng Khoán, thu nhập từ giao dịch phải áp dụng quy định tạm ngừng thu thuế thu nhập theo Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế Thu Nhập.
3.3 Khung khổ quản lý tài sản mã hóa tại Đài Loan
Hiện tại Đài Loan chưa có hệ thống pháp lý quản lý hoàn chỉnh đối với tiền mã hóa, nhưng đang tích cực soạn thảo các quy định liên quan. Xét từ góc độ phòng chống tội phạm rửa tiền, khung khổ quản lý tiền mã hóa tại Đài Loan hiện nay chủ yếu xoay quanh "Quy định về việc các nền tảng tiền ảo và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao dịch phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố" (sau đây gọi tắt là "Luật Phòng Chống Rửa Tiền"). Theo quy định này, Viện Hành chính Đài Loan chỉ định FSC là cơ quan quản lý chính trong công tác phòng chống rửa tiền đối với lĩnh vực này. Luật Phòng Chống Rửa Tiền kết hợp các tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Hành động Chống Rửa Tiền (FATF), trọng tâm nhằm ngăn chặn rửa tiền và chống tài trợ khủng bố. Yêu cầu quản lý bao gồm xác minh danh tính khách hàng nghiêm ngặt (KYC), kiểm tra liên tục, báo cáo giao dịch lớn, báo cáo giao dịch nghi ngờ rửa tiền, kiểm soát nội bộ và kiểm toán... Các nền tảng tiền ảo và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao dịch phải tuân thủ các quy định này mới được cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa hợp pháp tại Đài Loan. Cá nhân và pháp nhân cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa mà chưa hoàn tất đăng ký phòng chống rửa tiền với FSC theo quy định sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.
Về bảo đảm an toàn tài sản trong lĩnh vực tài sản mã hóa (ví dụ như phòng ngừa bị đánh cắp, mất mát), Đài Loan đang dần chuyển từ tự quản ngành sang giám sát của quyền lực công. Trước năm 2023, việc quản lý an toàn tài sản do các đơn vị hoạt động tự thực hiện, tuân thủ các quy định tự nguyện, cụ thể bao gồm: tuân theo "Các điểm chính về tiêu chuẩn an ninh thông tin ngành tiền ảo" do hiệp hội phi chính phủ "Hiệp hội Phát triển Bitcoin và Tiền ảo" ban hành; thực hiện các biện pháp quản lý an toàn tài sản theo yêu cầu hệ thống quản lý an ninh thông tin quốc tế ISO/IEC 27001; hoặc đạt được chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế này hoặc các tiêu chuẩn quốc tế khác. Sau đó, theo chỉ đạo của Viện Hành chính Đài Loan tháng 3 năm 2023, FSC đảm nhận vai trò cơ quan quản lý đối với "nền tảng tài sản ảo có tính chất đầu tư tài chính hoặc thanh toán", và lên kế hoạch tăng cường quản lý các nền tảng tài sản mã hóa theo từng bước. Tháng 9 năm 2023, FSC công bố "Nguyên tắc Hướng dẫn Quản lý Nền tảng và Doanh nghiệp Dịch vụ Giao dịch Tài sản Ảo (VASP)" (sau đây gọi tắt là "Nguyên tắc Hướng dẫn"), làm tài liệu tham khảo cho các đơn vị hoạt động tuân thủ pháp luật. Nguyên tắc Hướng dẫn, trên cơ sở Luật Phòng Chống Rửa Tiền, quy định hoạt động kinh doanh của các đơn vị VASP: một mặt, Nguyên tắc Hướng dẫn hạn chế hoạt động kinh doanh của đơn vị VASP, như không được phát hành stablecoin, không được kinh doanh các sản phẩm tài chính phái sinh có tài sản mã hóa làm cơ sở, không được kinh doanh nghiệp vụ tài sản mã hóa mang tính chất chứng khoán nếu chưa được phép; mặt khác, Nguyên tắc Hướng dẫn thực hiện giám sát quyền lực công về an toàn tài sản thông qua các cơ chế như cơ chế xem xét phát hành và niêm yết/tạm ngừng niêm yết tài sản mã hóa, cơ chế tách biệt quản lý tài sản của đơn vị VASP và tài sản khách hàng, cơ chế vận động xây dựng quy tắc nội bộ, hệ thống và cơ chế của đơn vị VASP (như kênh khiếu nại người tiêu dùng...)...
4. Tổng kết và triển vọng
Chính sách thuế và quản lý trong lĩnh vực tài sản mã hóa tại Đài Loan đang từng bước走向规范化和透明化。目前,台湾将加密资产视为具有经济价值的虚拟商品和证券,并建立起灵活的税收框架。同时,台湾「金管会」通过《洗钱防制法》和《管理虚拟资产平台及交易业务事业指导原则》等法规,在反洗钱、资金安全和投资者保护等方面强化了对加密资产平台的监管。
展望未来,台湾的加密资产监管将进一步走向法治化。已经确定的是,「金管会」将「研订 VASP 专法有效纳管 VASP 市场行为、完善投资人保护机制」纳入 2025 年施政重点,预计在 2025 年上半年完成专法草案并提交台湾「行政院」;同时,「金管会」也着手拓展加密资产保管业务,并于 2025 年 1 月 1 日开始受理业者申请业务试办,在「金管会」审查后对外公布审查通过的从业者名单。随着监管的完善,台湾可能会出台更细化的税收政策,解决当前加密资产交易成本计算等争议问题,进而影响加密资产市场的交易行为和投资模式。
总体而言,台湾在加密资产领域的政策正朝着更加系统化和国际化的方向迈进,既为投资者提供了更安全的交易环境,也为行业的创新与可持续发展奠定了坚实基础。未来,随着 VASP 专法的落地和税收政策的优化,台湾有望在亚洲加密资产市场中占据更重要的地位。
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News












