
Token hóa và Sổ cái thống nhất: Xây dựng bản đồ hệ thống tiền tệ tương lai
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Token hóa và Sổ cái thống nhất: Xây dựng bản đồ hệ thống tiền tệ tương lai
Bài viết phác họa bản đồ của hệ thống tiền tệ trong tương lai, tận dụng tiềm năng cải cách từ việc token hóa để cải thiện cấu trúc hiện tại và mở ra những khả năng mới.
Tác giả: Diane Cheung, Will A Vọng, Bạc Thái Bạc Thái
Ngày nay, hệ thống tiền tệ toàn cầu đang đứng trước ngưỡng cửa của một bước nhảy lịch sử mang tính đột phá. Sau kỹ thuật số hóa, token hóa (biểu hiện quyền lợi tài sản dưới dạng số trên nền tảng lập trình được) chính là chìa khóa cho bước tiến này. Token hóa làm thay đổi cách thức trung gian phục vụ người dùng; xóa bỏ rào cản trong truyền tải thông tin, đối chiếu và thanh toán, từ đó tăng cường mạnh mẽ năng lực của hệ thống tiền tệ và tài chính. Token hóa sẽ xây dựng những hình thái hoạt động kinh tế mới mà hệ thống tiền tệ hiện tại không thể thực hiện được.
Tiền mã hóa hoặc tài chính phi tập trung (DeFi), như gần đây ta thấy DeFi đang tham lam nuốt chửng tài sản RWA, chỉ mới hé lộ một khía cạnh của token hóa. Chúng vẫn còn nhiều hạn chế, không chỉ vì khó kết nối với thế giới thực, mà còn thiếu sự bảo chứng niềm tin bằng tiền tệ do ngân hàng trung ương cung cấp—ngay cả các stablecoin cũng không thực sự ổn định.
Trong bài viết dịch trước đây của chúng tôi về Báo cáo RWA của Citibank: Tiền bạc, token và trò chơi (1 tỷ người dùng tiếp theo và giá trị 10 nghìn tỷ USD trong blockchain), đã mở ra một thị trường token hóa hoàn toàn mới trị giá hàng chục nghìn tỷ USD. Tuy nhiên, trước khi khởi hành vào chuyến đại hải trình đầy sóng gió này, chúng ta cần quay trở lại điểm xuất phát, tìm hiểu token hóa, RWA, thậm chí là thanh toán bằng token từ nguyên lý cơ bản nhất của blockchain, giống như lúc đầu chúng ta nghiên cứu kỹ lưỡng bản whitepaper của Bitcoin.
Do đó, chúng tôi đã tổng hợp phần báo cáo năm 2023 của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) về chủ đề token hóa, nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho giới chuyên môn, để hiểu sâu hơn về cơ chế vận hành nền tảng của token hóa.
BIS phân tích token hóa dưới góc nhìn của hệ thống tiền tệ và hệ thống ngân hàng, phác họa nên bức tranh tương lai của hệ thống tiền tệ toàn cầu. Yếu tố then chốt để xây dựng bức tranh này là CBDC, tiền gửi được token hóa và các quyền lợi tài sản tài chính, vật chất được token hóa. Bản thiết kế này hình dung việc tích hợp tất cả các thành phần này vào một loại hạ tầng cơ sở thị trường tài chính mới — «Sổ cái thống nhất» (Unified Ledger), nơi mà toàn bộ lợi ích của token hóa được hiện thực hóa nhằm cải thiện thể chế cũ, xây dựng hệ thống mới.
Quan điểm cốt lõi
-
Token và việc token hóa tài sản có tiềm năng to lớn, nhưng yếu tố then chốt để thành công là sự bảo chứng niềm tin của tiền tệ ngân hàng trung ương và khả năng kết nối với hệ thống tài chính;
-
«Sổ cái thống nhất», một loại hạ tầng cơ sở thị trường tài chính mới, có thể tích hợp CBDC, tiền gửi được token hóa và tài sản được token hóa trên cùng một nền tảng lập trình được, qua đó phát huy tối đa lợi thế của token hóa;
-
CBDC và tiền gửi được token hóa đều có ưu thế nhất định trong việc duy trì tính đơn nhất của tiền tệ, đảm bảo tính cuối cùng của thanh toán, cung cấp thanh khoản và phòng tránh rủi ro;
-
Ứng dụng của token hóa và Sổ cái thống nhất không chỉ cải thiện hạ tầng cơ sở thị trường tài chính hiện tại thông qua tích hợp liền mạch nhiều hệ thống, mà còn tạo ra những sắp xếp kinh tế hoàn toàn mới nhờ nền tảng lập trình được, mang lại giá trị thương mại cực lớn;
-
Nhiều sổ cái chuyên biệt có thể đồng thời tồn tại và kết nối với nhau qua API để đảm bảo khả năng tương tác, đồng thời thúc đẩy sự bao trùm tài chính và cạnh tranh công bằng;
-
Cơ chế quản trị là yếu tố quan trọng thúc đẩy việc áp dụng Sổ cái thống nhất và các công nghệ mới về token hóa, trong đó động lực hợp lý là then chốt để thu hút các bên tham gia, từ đó tạo hiệu ứng mạng lưới.
Giải thích thuật ngữ
Token – Token, chỉ biểu tượng kỹ thuật số thể hiện quyền lợi hoặc tài sản trên blockchain hoặc sổ cái phân tán thống nhất.
Tokenisation – Token hóa, quá trình chuyển đổi quyền sở hữu tài sản tài chính hoặc thực tế từ sổ sách truyền thống sang nền tảng lập trình được.
Private Tokenised Monies – Tiền token tư nhân, các token do khu vực tư nhân (không phải ngân hàng trung ương) phát hành.
Singleness of Money – Tính đơn nhất của tiền tệ, nghĩa là trong một hệ thống tiền tệ cụ thể, chỉ tồn tại một loại tiền tệ chính, và các hình thức khác nhau của tiền tệ hoặc tài sản đều có thể quy đổi tương đương sang loại tiền tệ chính này. Giá trị tiền tệ không bị ảnh hưởng bởi hình thức khác nhau, dù là tiền do khu vực tư nhân phát hành (ví dụ như tiền gửi) hay do nhà nước phát hành (ví dụ như tiền mặt).
Settlement Finality – Tính cuối cùng của thanh toán, chỉ việc tiền được chuyển từ tài khoản này sang tài khoản khác chính thức trở thành tài sản hợp pháp của người nhận, và không thể bị hủy bỏ.
Unified Ledger – Sổ cái phân tán thống nhất, một loại hạ tầng cơ sở thị trường tài chính (FMI) mới, chỉ hệ thống tích hợp nhiều nguồn dữ liệu, nền tảng hoặc hệ thống thông tin (giao dịch tài chính, lưu trữ dữ liệu, hợp đồng, tài sản số...), dùng để ghi lại mọi giao dịch và dữ liệu mà không cần can thiệp của tổ chức trung tâm.
Programmable Platform – Nền tảng lập trình được, chỉ một nền tảng không bị giới hạn bởi công nghệ cụ thể nào, bao gồm môi trường thực thi, sổ cái và quy tắc quản trị, giống như máy Turing.
Ramp – Hợp đồng Ramp, chỉ hợp đồng kết nối nền tảng không lập trình được với nền tảng lập trình được. Ramp khóa tài sản trên nền tảng gốc của chúng, làm tài sản đảm bảo cho các token phát hành trên nền tảng lập trình được.
Atomic Settlement – Thanh toán nguyên tử, liên kết việc chuyển nhượng hai tài sản sao cho chỉ khi tài sản kia được chuyển nhượng đồng thời thì tài sản này mới được chuyển, tức là thanh toán có điều kiện. Do đó, kết quả thanh toán chỉ có hai khả năng: cả hai bên đều giao dịch thành công hoặc không có tài sản nào được chuyển. Thanh toán nguyên tử giúp hiện thực hóa thanh toán T+0.
Payment-versus-payment (PvP) – Giao dịch ngoại hối giao dịch đồng thời, một cơ chế thanh toán đảm bảo một loại tiền tệ phải được chuyển nhượng đồng thời với loại tiền tệ khác (hoặc nhiều loại), để đạt được thanh toán cuối cùng và không thể rút lại, nghĩa là các loại tiền tệ giao dịch đều được giao cùng một thời điểm.
Delivery-versus-payment (DvP) – Giao hàng đổi lấy tiền (tiền trao cháo múc), một cơ chế thanh toán liên kết việc chuyển nhượng tài sản với việc chuyển nhượng tiền, đảm bảo rằng chỉ khi thanh toán tương ứng xảy ra thì mới giao hàng.

I. Token và Token hóa
1.1 Định nghĩa Token và Token hóa
Token là bằng chứng sở hữu (Claims) được ghi trên nền tảng lập trình được và có thể giao dịch [1]. Token không chỉ là một chứng từ số đơn thuần, mà thường còn tích hợp sẵn các quy tắc và logic điều khiển việc chuyển nhượng tài sản cơ sở từ sổ sách truyền thống (xem hình dưới). Do đó, token là lập trình được, có thể tùy chỉnh để đáp ứng yêu cầu cá nhân hóa và tuân thủ quy định.

Token hóa (Tokenisation) là quá trình ghi lại quyền sở hữu tài sản tài chính hoặc thực tế (claims on financial or real assets) từ sổ sách truyền thống lên nền tảng lập trình được [2]. Quá trình token hóa được thực hiện thông qua hợp đồng Ramp (xem hình dưới), hợp đồng Ramp ánh xạ tài sản từ cơ sở dữ liệu truyền thống (như chứng khoán tài chính, hàng hóa hoặc bất động sản...) thành dạng token tài sản trên nền tảng lập trình được. Tài sản trong cơ sở dữ liệu truyền thống bị đóng băng hoặc «khóa» để làm tài sản đảm bảo cho các token phát hành trên nền tảng lập trình được. Việc khóa tài sản đảm bảo rằng khi token được chuyển nhượng thì tài sản cơ sở cũng đồng thời được chuyển nhượng, tức là quyền sở hữu thay đổi đồng bộ.

Token hóa giới thiệu hai đặc tính quan trọng: thực thi phi tập trung và thực thi có điều kiện thông qua hợp đồng thông minh.
Thực thi phi tập trung – Khác với hệ thống truyền thống cần người quản lý trung gian cập nhật và duy trì hồ sơ quyền sở hữu, trong môi trường token hóa, token hoặc tài sản trở thành «đối tượng thực thi» được duy trì trên nền tảng lập trình được. Các bên tham gia nền tảng chuyển tài sản bằng cách đưa ra các lệnh lập trình, không cần người quản lý trung gian ghi sổ. Cách thức này mở rộng phạm vi tổ hợp, cho phép gói nhiều thao tác vào một gói thực thi duy nhất. Giao dịch token hóa như vậy không nhất thiết loại bỏ vai trò trung gian, nhưng bản chất vai trò này thay đổi từ «cập nhật và duy trì hồ sơ quyền sở hữu» sang «quản lý quy tắc nền tảng lập trình được», do đó loại bỏ sự phụ thuộc vào việc cập nhật sổ sách bằng con người.
Thực thi có điều kiện của hợp đồng thông minh (Contingent Performance of actions) – Nền tảng lập trình được có thể thực hiện thực thi có điều kiện thông qua các câu lệnh logic trong hợp đồng thông minh như «nếu, thì, hoặc nếu không».
Việc kết hợp đồng thời hai đặc tính tổ hợp và thực thi có điều kiện của token hóa cho phép đơn giản hóa các giao dịch phức tạp có nhiều điều kiện.
1.2 CBDC và Tiền token tư nhân
Token hóa cần đơn vị kế toán tiền tệ (Unit of Account) và phương tiện thanh toán (Means of Payment) để được ứng dụng đầy đủ. So với việc sử dụng stablecoin làm phương tiện thanh toán trong các kịch bản tài chính phi tập trung, CBDC có nền tảng tốt hơn nhờ tính cuối cùng của thanh toán và sự bảo chứng của ngân hàng trung ương. Nền tảng lập trình có thể trực tiếp tận dụng việc nhúng thanh toán tiền pháp định như một phần thiết yếu trong các thỏa thuận token hóa, là lựa chọn tối ưu cho ứng dụng token hóa.
Phát triển CBDC bán buôn là then chốt cho ứng dụng token hóa. Với tư cách là phương tiện thanh toán token hóa, CBDC bán buôn vừa có thể đóng vai trò như dự trữ trong hệ thống tiền tệ hiện tại, vừa có thể được token hóa để bổ sung chức năng mới, ví dụ như các giao dịch bằng CBDC bán buôn có thể tích hợp tất cả các đặc tính như tổ hợp và thực thi có điều kiện nêu trên. Loại CBDC nâng cao này cũng có thể trở thành biến thể bán lẻ, phục vụ cư dân và doanh nghiệp, bằng cách cung cấp tiền mặt số liên kết trực tiếp với đơn vị tiền tệ chủ quyền, ngân hàng trung ương có thể hỗ trợ thêm nữa cho tính đơn nhất của tiền tệ.
Vai trò của CBDC trong môi trường token hóa đã khá rõ ràng, nhưng việc tiền token tư nhân đóng vai trò bổ trợ cho CBDC nên được thực hiện dưới hình thức nào vẫn còn chỗ để thảo luận. Hiện nay có hai hình thức token hóa phổ biến: tiền gửi được token hóa và stablecoin được đảm bảo bằng tài sản. Cả hai đều đại diện cho nợ của người phát hành, người phát hành cam kết khách hàng có thể đổi quyền lợi theo mệnh giá bằng đơn vị tiền tệ chủ quyền. Điểm khác biệt nằm ở cách thức chuyển nhượng và vai trò trong hệ thống tài chính, điều này ảnh hưởng đến thuộc tính của chúng như tiền token tư nhân bổ trợ cho CBDC.
Tiền gửi được token hóa (Tokenised Deposit)
Tiền gửi được token hóa có thể được thiết kế theo cách vận hành tương tự như tiền gửi ngân hàng thông thường trong hệ thống hiện tại. Ngân hàng có thể phát hành tiền gửi được token hóa để đại diện cho nợ của người phát hành. Giống như tiền gửi thông thường, tiền gửi được token hóa không thể chuyển nhượng trực tiếp, thanh khoản thanh toán do ngân hàng trung ương cung cấp vẫn đảm bảo chức năng thanh toán hoạt động bình thường.
Ví dụ sau minh họa điểm tương đồng giữa tiền gửi được token hóa và tiền gửi truyền thống: John và Paul có tài khoản tại hai ngân hàng khác nhau và đều đã hoàn thành KYC.
Trong hệ thống truyền thống, khi John trả 100 bảng Anh cho Paul, Paul sẽ không nhận được 100 bảng Anh tiền gửi tại ngân hàng của John. Thay vào đó, số dư tài khoản ngân hàng của John giảm đi 100 bảng Anh, trong khi số dư tài khoản ngân hàng của Paul tăng lên cùng số tiền đó. Đồng thời, việc điều chỉnh tài khoản cá nhân giữa hai ngân hàng được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng dự trữ tại ngân hàng trung ương giữa hai ngân hàng.
Trong môi trường token hóa, kết quả thanh toán tương tự có thể đạt được bằng cách giảm tiền gửi được token hóa mà John nắm giữ tại ngân hàng của anh và tăng tiền gửi được token hóa mà Paul nắm giữ tại ngân hàng của anh, đồng thời thực hiện thanh toán bằng cách chuyển nhượng đồng thời CBDC bán buôn. Paul vẫn chỉ có quyền đòi nợ đối với ngân hàng của mình, anh là khách hàng đã được xác minh bởi ngân hàng, không có quyền đòi nợ đối với ngân hàng của John hay đối với John.

Tiền gửi được token hóa có thể duy trì và tăng cường một số lợi thế quan trọng của hệ thống tiền tệ hai cấp hiện tại.
Thứ nhất, tiền gửi được token hóa sẽ góp phần duy trì tính đơn nhất của tiền tệ. Hệ thống hiện tại do ngân hàng trung ương vận hành hạ tầng thanh toán, đảm bảo số tiền thanh toán được định giá bằng tiền tệ chủ quyền được chuyển nhượng cuối cùng, từ đó đạt được tính đơn nhất trong thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng thương mại. Tiền gửi được token hóa giữ nguyên cơ chế này, đồng thời do việc thanh toán bằng CBDC bán buôn được thực hiện qua hợp đồng thông minh, cải thiện được thời gian, thu hẹp khoảng cách thời gian giữa việc gửi và nhận, giảm thiểu rủi ro.
Thứ hai, tiền gửi được token hóa thanh toán bằng CBDC bán buôn có thể đảm bảo tính cuối cùng của thanh toán. Ngân hàng trung ương khấu trừ số tiền tương ứng từ tài khoản của người thanh toán và ghi có vào tài khoản của người nhận, bằng cách cập nhật bảng cân đối kế toán để đạt được thanh toán cuối cùng, xác nhận việc thanh toán là cuối cùng và không thể hủy bỏ. Trong ví dụ trên, tính cuối cùng của thanh toán đảm bảo rằng Paul không có quyền đòi nợ đối với John (hoặc ngân hàng của John), mà chỉ có quyền đòi nợ đối với ngân hàng của mình.
Cuối cùng, tiền gửi được token hóa sẽ đảm bảo ngân hàng vẫn linh hoạt cung cấp tín dụng và thanh khoản. Trong hệ thống tiền tệ hai cấp hiện tại, ngân hàng cung cấp khoản vay và hỗ trợ thanh khoản theo nhu cầu (như hạn mức tín dụng) cho cư dân và doanh nghiệp. Phần lớn tiền tệ lưu hành trong hệ thống tiền tệ hiện tại được tạo ra theo cách này, vì khi người vay có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, khoản vay do ngân hàng giải ngân sẽ trực tiếp hình thành tiền gửi trong tài khoản người vay, từ đó tạo ra tiền tệ. Khác với mô hình ngân hàng thu hẹp [3], cách thức linh hoạt này cho phép ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của cư dân và doanh nghiệp theo sự thay đổi tình hình kinh tế hoặc tài chính, nhưng mô hình này cũng cần giám sát đầy đủ để ngăn chặn tăng trưởng tín dụng quá mức và hành vi rủi ro cao.
Stablecoin
Stablecoin là một hình thức tiền token tư nhân khác, nhưng tồn tại một số khuyết điểm. So với tiền gửi được token hóa, stablecoin đại diện cho khoản nợ có thể chuyển nhượng do người phát hành phát hành, tương tự trái phiếu vô danh kỹ thuật số. Việc thanh toán bằng stablecoin tương đương với việc chuyển nhượng nợ của người phát hành giữa các người dùng.
Vẫn dùng ví dụ John và Paul chuyển tiền, John nắm giữ một đơn vị stablecoin do người phát hành phát hành (tức là một đơn vị quyền đòi nợ của người phát hành). Khi John trả một đơn vị stablecoin cho Paul, quyền đòi nợ mà John nắm giữ được chuyển cho Paul. Trước khi chuyển tiền, Paul không nắm giữ bất kỳ quyền đòi nợ nào đối với người phát hành. Trong trường hợp này, Paul có thể bị động nắm giữ quyền đòi nợ đối với người phát hành mà anh không tin tưởng. Vậy vấn đề đặt ra là Paul có tin tưởng người phát hành stablecoin không?
Lý do là vì stablecoin có thuộc tính của trái phiếu vô danh: khi giao dịch này xảy ra, người phát hành stablecoin không cần cập nhật bảng cân đối kế toán của mình, và do nó là tiền token tư nhân, bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương cũng không thanh toán giao dịch này. Bản thân stablecoin là chứng từ quyền đòi nợ đối với người phát hành, việc chuyển nhượng chứng từ này không cần sự đồng ý hoặc tham gia của người phát hành.
So với tiền gửi được token hóa, stablecoin chủ yếu tồn tại những nhược điểm sau:
Thứ nhất, stablecoin có thể phá vỡ tính đơn nhất của tiền tệ, dẫn đến tình trạng giá trị tiền tệ không nhất quán. Điều này xảy ra vì stablecoin có thể giao dịch, khi thanh khoản giữa các stablecoin khác nhau hoặc uy tín của người phát hành khác nhau, giá của chúng có thể lệch khỏi mệnh giá, thậm chí gây ra bất ổn nghiêm trọng hơn. Ví dụ như sự kiện Silicon Valley Bank, do lo ngại thanh khoản của SVB ảnh hưởng đến giá stablecoin, người dùng ồ ạt bán tháo khiến giá stablecoin sụt giảm mạnh, phá vỡ tính đơn nhất. Thiếu sự giám sát rõ ràng và bảo chứng tín dụng của ngân hàng trung ương là nguyên nhân quan trọng dẫn đến những vấn đề này.
Thứ hai, khác với tiền gửi được token hóa có thể linh hoạt cung cấp thanh khoản, hoạt động của stablecoin được đảm bảo bằng tài sản tương tự như ngân hàng thu hẹp. Về nguyên tắc, tất cả đô la Mỹ tương ứng với việc phát hành stablecoin nên được đầu tư vào tài sản thanh khoản cao và an toàn, điều này khiến stablecoin làm giảm nguồn cung tài sản thanh khoản có thể sử dụng cho các mục đích khác, do đó không thể cung cấp thanh khoản một cách co giãn.
Hơn nữa, so với tiền gửi được token hóa, stablecoin thiếu giám sát về KYC, AML và CFT, tiềm ẩn rủi ro nhất định. Như ví dụ trên, John chuyển stablecoin cho Paul, nhưng người phát hành không xác minh danh tính hoặc kiểm tra tuân thủ đối với Paul, không thể xác định danh tính thật của Paul, dẫn đến rủi ro gian lận. So với việc cần thực hiện cải cách giám sát lớn để đảm bảo stablecoin tuân thủ KYC, AML và CFT, tiền gửi được token hóa có thể vận hành trong khuôn khổ giám sát hiện tại bằng cách bắt chước quy trình chuyển nhượng tiền gửi truyền thống.
II. Token hóa và Sổ cái thống nhất
Việc ứng dụng đầy đủ token hóa phụ thuộc vào khả năng kết hợp giao dịch và thao tác tiền tệ cùng một loạt tài sản trên nền tảng lập trình được. Token hóa cung cấp phương tiện thanh toán cần thiết để ánh xạ giao dịch tài sản cơ sở, cốt lõi là tiền tệ ngân hàng trung ương dưới dạng token hóa, nhằm thúc đẩy tính cuối cùng của thanh toán. Sổ cái thống nhất là một «nơi công cộng» tích hợp các chức năng này, đặt CBDC, tiền token tư nhân và các tài sản được token hóa khác trên cùng một nền tảng lập trình được, cuối cùng hiện thực hóa các sắp xếp kinh tế hoàn toàn mới dưới dạng tích hợp liền mạch.
2.1 Cách thức tạo ra Sổ cái thống nhất
Khái niệm Sổ cái thống nhất không có nghĩa là «một sổ cái cai trị tất cả», hình thức nào được lựa chọn chủ yếu phụ thuộc vào việc cân bằng lợi ích ngắn hạn và dài hạn, vì việc xây dựng Sổ cái thống nhất cần giới thiệu hạ tầng cơ sở thị trường tài chính (FMI) mới và cũng cần xem xét nhu cầu cụ thể của từng khu vực pháp lý.
Kết nối nhiều sổ cái riêng biệt và các hệ thống hiện tại thông qua API để tạo thành hình thức Sổ cái thống nhất [4], về ngắn hạn chi phí ban đầu thấp hơn, dễ dàng hơn trong việc phối hợp các bên liên quan và cũng có thể đáp ứng nhu cầu của các khu vực pháp lý khác nhau. Bằng cách kết nối các hệ thống hiện tại qua API, có thể hiện thực hóa một số quá trình trao đổi dữ liệu tự động tương tự như trong môi trường token hóa, nhiều sổ cái riêng biệt có thể cùng tồn tại, và theo thời gian, các chức năng mới có thể được tích hợp dần, phạm vi của Sổ cái thống nhất sẽ quyết định cơ chế quản trị liên quan đến các bên tham gia trong mỗi sổ cái. Tuy nhiên, cách tiếp cận từng bước này cũng có hạn chế nhất định, khi xây dựng chịu ràng buộc bởi tầm nhìn xa và khả năng tương thích với các hệ thống hiện có, trong điều kiện mở rộng liên tục, các ràng buộc này ngày càng nghiêm ngặt, cuối cùng cản trở đổi mới.
Việc trực tiếp giới thiệu FMI mới dạng Sổ cái thống nhất, mặc dù chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chuyển đổi sang tiêu chuẩn mới cao hơn trong ngắn hạn, nhưng có thể đánh giá toàn diện lợi ích mà ứng dụng công nghệ mới mang lại. Token hóa mang lại cơ hội phá cũ lập mới này, giá trị mà nền tảng lập trình được tạo ra trong tương lai sẽ vượt xa chi phí ngắn hạn.
Cần làm rõ rằng, hai cách thực hiện này không tuyệt đối tốt hay xấu, cách thực hiện cụ thể phụ thuộc rất lớn vào cơ sở công nghệ và nhu cầu cụ thể của từng khu vực pháp lý.
2.2 Thành phần của Sổ cái thống nhất
Sổ cái thống nhất cho phép token phát huy tối đa lợi thế trên nền tảng chung, trong môi trường dữ liệu được mã hóa, lưu trữ và chia sẻ an toàn, có thể tạo ra các giao dịch mới, tối ưu hóa hiệu quả thực thi hợp đồng. Thiết kế Sổ cái thống nhất có hai yếu tố then chốt: thứ nhất, tất cả các thành phần cần thiết cho giao dịch phải được lưu trữ trên cùng một nền tảng; thứ hai, token hoặc tài sản được token hóa là các đối tượng thực thi, do đó chúng có thể được chuyển nhượng an toàn mà không cần tin nhắn và xác thực bên ngoài.
Hình dưới minh họa cấu trúc đơn giản của Sổ cái thống nhất, bao gồm hai mô-đun chính: môi trường dữ liệu và môi trường thực thi, Sổ cái thống nhất như một thể thống nhất chịu sự ràng buộc của khung quản trị chung.

Môi trường dữ liệu. Môi trường dữ liệu chủ yếu bao gồm ba phần: tiền token tư nhân và tài sản được token hóa, thông tin cần thiết để vận hành sổ cái (như dữ liệu cần thiết để chuyển tiền và tài sản một cách an toàn và hợp pháp), và tất cả thông tin thực tế cần thiết cho các thao tác có điều kiện (có thể là kết quả giao dịch trong sổ cái hoặc thu thập từ môi trường bên ngoài). Tiền token tư nhân và tài sản được token hóa được vận hành độc lập trong các phân vùng do các thực thể vận hành đủ điều kiện sở hữu.
Môi trường thực thi. Dùng để thực hiện các thao tác khác nhau, có thể được thực hiện trực tiếp bởi người dùng hoặc hợp đồng thông minh, chỉ kết hợp các tổ chức và tài sản cần thiết cho ứng dụng cụ thể. Ví dụ, khi hai cá nhân chuyển tiền qua hợp đồng thông minh, thanh toán sẽ tập hợp ngân hàng của người dùng (người cung cấp tiền gửi được token hóa) và ngân hàng trung ương (người cung cấp CBDC), nếu cần thông tin điều kiện bên ngoài trong quá trình thực thi cũng sẽ được đưa vào cùng.
Khung quản trị chung. Dùng để quy định cách các thành phần khác nhau tương tác trong môi trường thực thi và các quy tắc riêng tư áp dụng, nhằm đảm bảo tính bảo mật nghiêm ngặt. Phân vùng dữ liệu và mã hóa dữ liệu là hai cách chính để hiện thực tính bảo mật và kiểm soát dữ liệu. Phân vùng dữ liệu cách ly các khu vực khác nhau, chỉ các thực thể được ủy quyền mới có thể truy cập dữ liệu trong khu vực của mình; trong khi mã hóa dữ liệu đảm bảo dữ liệu được mã hóa trong quá trình truyền và lưu trữ, chỉ các bên được ủy quyền mới có thể giải mã và truy cập dữ liệu. Hai yếu tố này hỗ trợ lẫn nhau, cùng đảm bảo tính an toàn và độ tin cậy cho giao dịch và thao tác tài chính.
III. Trường hợp ứng dụng
Như đã nêu ở trên, token hóa và Sổ cái thống nhất có thể cung cấp các sắp xếp kinh tế mới cho các nghiệp vụ tài chính hiện tại, từ đó đạt được hiệu quả cải thiện mô hình kinh doanh hiện tại cũng như đổi mới mô hình kinh doanh.
3.1 Cải thiện mô hình kinh doanh hiện tại
Ứng dụng token hóa có thể cải thiện các nghiệp vụ thanh toán và thanh toán chứng khoán hiện tại.
3.1.1 Thanh toán và thanh toán
Hệ thống thanh toán hiện tại có thể đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dùng, nhưng quy trình thanh toán vẫn tồn tại các vấn đề về chi phí cao, tốc độ chậm và độ minh bạch thấp. Điều này chủ yếu do tiền tệ kỹ thuật số hiện đang ở rìa của mạng truyền thông, phải dựa vào các hệ thống tin nhắn bên ngoài để kết nối các cơ sở dữ liệu riêng tư do ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng vận hành nhằm hợp tác. Sự tách rời giữa truyền tin, đối chiếu và thanh toán dẫn đến chậm trễ, và các bên tham gia không thể biết đầy đủ tiến độ, khi có lỗi xảy ra, chi phí sửa lỗi cao và rủi ro vận hành [5].
Hình dưới là quy trình thông báo chuyển tiền điện tử trong nước đơn giản, việc chuyển tiền từ người gửi Alice đến người nhận Bob liên quan đến lượng lớn thông báo, kiểm tra nội bộ và điều chỉnh tài khoản, rất phức tạp, người tham gia khó theo dõi tiến độ thanh toán, người nhận và người gửi chỉ có thể thụ động biết trạng thái thanh toán [6]. Trong thực tế kinh doanh, quy trình thanh toán xuyên biên giới còn phức tạp hơn, liên quan đến truyền tin xuyên quốc gia, chênh lệch múi giờ và ngày nghỉ lễ, thanh toán ngoại hối và nhiều yếu tố khác, làm chậm hơn nữa thời gian và tăng thêm rủi ro thanh toán.

Sổ cái thống nhất có thể cải thiện các vấn đề này trong thanh toán, tiền token tư nhân và CBDC trên cùng nền tảng lập trình được không còn cần gửi tin nhắn tuần tự giữa các cơ sở dữ liệu riêng biệt. Sổ cái thống nhất sử dụng phương thức thanh toán nguyên tử (tức là hai tài sản được trao đổi đồng thời), khi một tài sản được chuyển thì tài sản kia cũng được chuyển, điều này khiến việc thanh toán bán buôn từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và thanh toán đồng thời bằng CBDC bán buôn được kết hợp, loại bỏ chậm trễ và giảm rủi ro. Đồng thời, do Sổ cái thống nhất phân vùng dữ liệu và thiết lập quyền truy cập, cung cấp đồng thời tính riêng tư dữ liệu và minh bạch giao dịch cho các bên tham gia, đồng thời mang lại trải nghiệm thanh toán tốt hơn cho các bên giao dịch.
3.1.2 Thanh toán chứng khoán
Thanh toán chứng khoán [7] cũng là một ví dụ điển hình về việc Sổ cái thống nhất trao quyền cho nghiệp vụ hiện tại.
Quy trình thanh toán chứng khoán hiện tại liên quan đến nhiều bên tham gia như môi giới, người giám hộ, kho bạc chứng khoán trung ương, tổ chức thanh toán và cơ quan đăng ký... Các chỉ thị tin nhắn, dòng tiền và quy trình đối chiếu liên quan đến giao dịch thanh toán rất phức tạp, khiến toàn bộ quy trình dài, chi phí cao, dẫn đến rủi ro chi phí tái định giá và rủi ro gốc.
Trong nghiệp vụ thanh toán chứng khoán truyền thống, Kho bạc Chứng khoán Trung ương (Central Securities Depositories) trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý chứng khoán cho người thụ hưởng. Người mua hoặc người bán chứng khoán khởi động quy trình giao dịch bằng cách gửi chỉ thị đến môi giới hoặc người giám hộ của họ, và việc thanh toán cuối cùng có thể mất tới 2 ngày làm việc (xem quy trình thanh toán chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông trong hình dưới), điều này khiến các bên giao dịch đối mặt với rủi ro chi phí tái định giá (rủi ro phải giao dịch lại với giá kém thuận lợi hơn nếu giao dịch không được thanh toán). Đồng thời, do việc giao tiền và giao chứng khoán không đồng bộ, vẫn tồn tại rủi ro người bán không nhận được tiền hoặc người mua không nhận được chứng khoán (rủi ro gốc).

Sổ cái thống nhất và token hóa có thể cải thiện nghiệp vụ thanh toán chứng khoán. Như hình dưới, bằng cách tập hợp tiền tệ được token hóa và chứng khoán trên nền tảng lập trình được, có thể rút ngắn thời gian thanh toán và loại bỏ nhu cầu truyền tin và đối chiếu, từ đó giảm rủi ro chi phí tái định giá. Việc giao tiền và giao chứng khoán đồng thời có thể mở rộng phạm vi chứng khoán được bao phủ bởi giao hàng đổi lấy tiền (DvP), giảm thêm rủi ro gốc. Việc thực hiện phương thức thanh toán chứng khoán mới này cần cơ chế tiết kiệm thanh khoản tương ứng [8], vì thanh toán nguyên tử trong hệ thống đòi hỏi thanh khoản cao hơn, điều này tương tự như quá trình chuyển đổi từ thanh toán ròng có độ trễ (DNS) sang thanh toán toàn bộ thời gian thực (RTGS).

Dự án Evergreen do Cơ quan Quản lý Tiền tệ Hồng Kông (Hong Kong Monetary Authority) triển khai năm 2022 là một ứng dụng điển hình về việc Sổ cái thống nhất trao quyền cho nghiệp vụ thanh toán chứng khoán, chi tiết xem phần Tài chính xanh ở dưới.
3.1.3 Thanh toán ngoại hối
Sổ cái thống nhất và token hóa cũng có thể hiệu quả giảm rủi ro thanh toán trên thị trường ngoại hối trị giá hàng nghìn tỷ đô la Mỹ.
Cơ chế hiện tại giao dịch ngoại hối giao dịch đồng thời (PvP) giúp giảm rủi ro thanh toán, nhưng rủi ro vẫn tồn tại, và hệ thống PvP này không khả dụng hoặc không phù hợp với một số giao dịch, các bên tham gia thị trường cũng cho rằng chi phí quá cao.
Thanh toán nguyên tử 24/7 có thể loại bỏ chậm trễ thanh toán, giảm thêm rủi ro. Hợp đồng thông minh kết hợp ngoại hối và nhà cung cấp ngoại hối được ủy quyền có thể mở rộng phạm vi giao hàng của PvP, giảm chi phí giao dịch.
3.2 Tạo ra cảnh quan kinh doanh hoàn toàn mới
Sổ cái thống nhất không chỉ cải thiện nghiệp vụ hiện tại, mà còn có thể mở rộng phạm vi hợp tác và tạo ra các sắp xếp kinh doanh và mô hình giao dịch mới thông qua sự kết hợp đồng thời của hợp đồng thông minh, môi trường lưu trữ và chia sẻ thông tin an toàn và bảo mật, cũng như thực thi giao dịch bằng token hóa.
3.2.1 Giảm rủi ro đổ vỡ ngân hàng
Ứng dụng hợp đồng thông minh có thể hiệu quả mở rộng phạm vi hợp tác tập thể, từ đó khắc phục hành vi «ăn theo» [9] của cá nhân riêng lẻ, hiệu quả giảm rủi ro đổ vỡ ngân hàng.
Hợp đồng tiền gửi kỳ hạn là thỏa thuận song phương giữa ngân hàng và người gửi tiền, và giá trị tiền gửi có thể bị ảnh hưởng khi ngân hàng hoặc ngành ngân hàng đối mặt với áp lực thanh khoản. Trong trường hợp này, giá trị tiền gửi phụ thuộc vào quyết định tập thể của tất cả người gửi tiền. Vì ngân hàng đầu tư phần lớn tiền gửi vào tài sản không thanh khoản, khi đối mặt với áp lực thanh khoản ngắn hạn, theo nguyên tắc ai đến trước được phục vụ trước, người gửi tiền rút tiền sớm sẽ được đảm bảo giá trị tiền gửi, điều này dẫn đến hiện tượng đổ vỡ ngân hàng.
Việc áp dụng hợp đồng thông minh tiền gửi có thể giảm nhẹ rủi ro này, hợp đồng thông minh thực thi bắt buộc điều kiện của nó, khiến toàn bộ người gửi tiền đạt được sự hợp tác tập thể (giá trị tiền gửi của người gửi tiền không khác biệt do thứ tự rút tiền), loại bỏ động cơ rút tiền sớm vì lo lắng người khác rút trước. Mặc dù cách này không tránh được mọi trường hợp đổ vỡ, nhưng có thể giảm nhẹ lợi thế đi trước và thất bại hợp tác trong các trường hợp điển hình.
3.2.2 Tài chính chuỗi cung ứng kiểu mới
Bằng cách đưa thông tin thời gian thực vào hợp đồng thông minh, tài chính chuỗi cung ứng có thể tận dụng Sổ cái thống nhất để cải tiến.
Hình dưới là một chuỗi cung ứng đơn giản. Người mua (thường là công ty lớn) mua hàng từ nhà cung cấp 1 (thường là doanh nghiệp nhỏ và vừa SME), trong khi nhà cung cấp này cần mua nguyên liệu từ nhà cung cấp 2 để sản xuất. Người mua thường thanh toán cho nhà cung cấp 1 sau khi hàng đến, trong khi nhà cung cấp 1 cần thanh toán lương và chi phí nguyên liệu trước khi nhận được tiền hàng, trong trường hợp này, nhà cung cấp 1 cần vay vốn và hoàn trả sau khi nhận được tiền hàng.

Do người mua có khả năng không thanh toán sau khi giao hàng, hình thức tài trợ cho nhà cung cấp chủ yếu là cho vay thương mại có cầm cố (thế chấp). Ví dụ, một SME Ý mua bán thành phẩm từ nhà cung cấp Ấn Độ, bán thành phẩm được giao bằng tàu thủy sau một tháng, để khởi động sản xuất, SME dùng hàng hóa đang trên đường làm tài sản đảm bảo, vay từ ngân hàng hoặc nhà cung cấp. Nếu SME vỡ nợ, chủ nợ có quyền thu hồi tài sản đảm bảo. Do rủi ro tài sản đảm bảo bị hư hại hoặc mất giá (như gặp cướp biển hoặc bão), chủ nợ có thể chỉ cung cấp tín dụng không đủ hoặc tăng chi phí vay. Ngoài ra, SME cũng có thể gian lận, như cầm cố tài sản đảm bảo cho nhiều bên cho vay. Những vấn đề tài trợ phổ biến này khiến nhà cung cấp chỉ có thể dựa vào vốn tự có để đáp ứng nhu cầu vận hành.
Sổ cái thống nhất có thể giảm nhẹ vấn đề tài trợ thương mại bằng cách tích hợp các thành phần khác nhau của mối quan hệ chuỗi cung ứng và các bước khác nhau của quy trình tài trợ vào một nơi. Sử dụng hợp đồng thông minh giữa người mua và nhà cung cấp, quy định người mua tự động thanh toán khi hàng được giao, hoặc thanh toán một phần khi đạt đến bước trung gian, điều này giảm rủi ro người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau khi nhận hàng. Sử dụng hợp đồng thông minh cho vay giữa ngân hàng và nhà cung cấp, tự động thực thi điều khoản vay ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình vận chuyển dựa trên dữ liệu thời gian thực từ thiết bị IoT, ví dụ sau khi tàu đi qua khu vực rủi ro cao, lãi suất tự động giảm hoặc cấp thêm tín dụng. Bằng cách này, vốn hoạt động ban đầu của nhà cung cấp có thể được đáp ứng, và do tài sản đảm bảo đã được ghi vào Sổ cái thống nhất, không thể cầm cố trùng lặp, giảm rủi ro cho bên cấp vốn, đồng thời tăng thêm ý chí cung cấp tín dụng.
3.2.3 Tối ưu hóa dịch vụ cho vay
Thông qua môi trường lưu trữ và chia sẻ thông tin an toàn và bảo mật, Sổ cái thống nhất còn có thể tận dụng lợi thế dữ liệu để giảm chi phí tín dụng và khó khăn tiếp cận tín dụng.
Thứ nhất, dữ liệu tích hợp của Sổ cái thống nhất cho phép bên cho vay đưa nhiều loại dữ liệu hơn vào hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng người vay, từ đó giảm chi phí vay và phụ thuộc vào tài sản đảm bảo.
Thứ hai, việc ứng dụng công nghệ mã hóa dữ liệu khiến người dùng trên Sổ cái thống nhất giữ quyền kiểm soát dữ liệu của mình, điều này cải thiện chi phí vay cao do hiệu ứng mạng tạo ra. Hiệu ứng mạng tuy tập trung lượng lớn dữ liệu người dùng, mang lại kênh vay thuận tiện cho người vay, nhưng khi các dịch vụ này thu hút ngày càng nhiều người dùng, lượng dữ liệu tăng lên dẫn đến nhiều dữ liệu hơn do người dùng tạo ra, hình thành vòng lặp DNA (Data-Network-Activities). Kết quả là độ tập trung thị trường tăng cao, lợi nhuận vượt trội hoặc lợi nhuận độc quyền sinh ra chi phí vay cao. Việc Sổ cái thống nhất duy trì quyền kiểm soát dữ liệu của người dùng, cho phép người dùng tự quyết định liệu bên cho vay có thể chia sẻ hoặc sử dụng dữ liệu của họ hay không, từ đó cắt giảm lợi nhuận của bên cho vay do tập trung thị trường, cuối cùng giảm chi phí vay, mang lại lợi ích cho cư dân và doanh nghiệp.
Hơn nữa, Sổ cái thống nhất còn có thể cải thiện việc chia sẻ dữ liệu để nâng cao tính bao trùm tài chính, đưa dữ liệu của các nhóm yếu thế như dân tộc thiểu số và hộ gia đình thu nhập thấp vào hệ thống tín dụng. Các ứng viên «lịch sử tín dụng ít» sẽ được hưởng lợi từ sàng lọc dữ liệu phi truyền thống, vì điểm số tín dụng truyền thống của ngân hàng gây nhiễu chỉ số rủi ro vỡ nợ của họ nhiều hơn các nhóm khác, dữ liệu toàn diện hơn từ Sổ cái thống nhất nâng cao chất lượng đánh giá tín dụng, từ đó giảm chi phí vay cho các nhóm này.
3.2.4 Chống rửa tiền
Bằng cách sử dụng công nghệ mã hóa, Sổ cái thống nhất cũng có thể giới thiệu các phương pháp mới để tăng cường AML (chống rửa tiền) và CFT (chống tài trợ khủng bố).
Các tổ chức tài chính cần theo luật bảo vệ dữ liệu nhạy cảm cao và dữ liệu riêng tư, không thể chia sẻ các dữ liệu nhạy cảm này mà không làm lộ thông tin bí mật, điều này cản trở việc thực hiện AML và CFT. Sổ cái thống nhất có thể cung cấp bản ghi minh bạch, có thể kiểm toán về giao dịch,
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News












