
Phân tích sơ lược về logic kinh doanh của DWF, làm thế nào để sử dụng các thông tin liên quan nhằm định hướng giao dịch cấp hai?
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Phân tích sơ lược về logic kinh doanh của DWF, làm thế nào để sử dụng các thông tin liên quan nhằm định hướng giao dịch cấp hai?
DWF ban đầu đã tạo dựng hiệu ứng làm giàu thông qua việc thao túng thị trường để xây dựng hình ảnh thương hiệu; bản thân DWF là sản phẩm được sinh ra trong bối cảnh quản lý yếu kém giữa thị trường gấu, tận dụng khó khăn phát triển của các đội ngũ dự án và tâm lý nhà đầu tư nhỏ lẻ giữa thị trường gấu để thu lợi từ cả hai phía.
Năm nay, DWF nổi lên như một hiện tượng, liên tục thực hiện các khoản đầu tư lớn, những đồng tiền liên quan đến DWF thường xuyên tăng giá gấp đôi; trong bối cảnh thị trường tiền mã hóa đang rơi vào giai đoạn điều chỉnh sâu, làm thế nào DWF có thể đạt được điều này? Nhà đầu tư thị trường thứ cấp nên tham gia vào các tài sản liên quan như thế nào?
DWF Labs là công ty con thuộc Digital Wave Finance (DWF), DWF là một công ty giao dịch tần suất cao toàn cầu trong lĩnh vực tiền mã hóa, từ năm 2018 đã thực hiện giao dịch giao ngay và phái sinh trên hơn 40 sàn giao dịch hàng đầu. Ban đầu, DWF Labs xuất hiện tại thị trường tiền mã hóa dưới hình ảnh một nhà tạo lập thị trường (market maker). Tuy nhiên, điều khiến thị trường chú ý đến DWF thực sự bắt đầu từ đợt tăng mạnh của các đồng tiền mang yếu tố Hong Kong như CFX, ACH vào quý I, tiếp đó là các đồng tiền MEME như PEPE, LADYS tăng hàng chục lần vào quý II, rồi gần đây là các đồng YGG, CYBER tăng vài lần nhờ lên sàn. Trong đó, CFX, ACH và YGG được DWF mua qua OTC, còn các đồng như PEPE (MEME), LADYS (MEME), CYBER (tham gia Binance Launch Pool) do cấu trúc chip tốt, DWF trực tiếp mua trên thị trường thứ cấp để tác động giá.

Một số đồng tiền liên quan đến DWF tăng nhiều lần thu hút sự chú ý của thị trường
Lý do DWF thu hút sự chú ý của thị trường không chỉ vì các đồng tiền mà họ thao túng có biến động giá mạnh, mà còn do mâu thuẫn với các đối thủ khác. Các nhà tạo lập thị trường nổi tiếng như Wintermute, GSR từng công khai bày tỏ sự bất mãn với DWF, cho rằng họ là nhà tạo lập thị trường kém chất lượng, là "bad actor".
Phân tích phạm vi hoạt động của DWF:
Trong thị trường tiền mã hóa, đầu tư và tạo lập thị trường thường là hai khái niệm riêng biệt. Đầu tư thường ám chỉ việc rót vốn hỗ trợ đội ngũ dự án phát triển, vận hành, marketing trước khi dự án phát hành token; đổi lại, sau khi dự án ra mắt, nhà đầu tư nhận được lượng token tương ứng với thời gian khóa nhất định. Trong khi đó, tạo lập thị trường nhằm xây dựng thanh khoản tốt cho token đã phát hành, giảm chi phí giao dịch, thu hút thêm người tham gia. Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đến từ lợi tức token của dự án được đầu tư; lợi nhuận từ tạo lập thị trường đến từ phí tạo lập thị trường mà đội dự án trả và chênh lệch giá mua/bán (spread). Một số quỹ đầu tư nổi bật trong thị trường tiền mã hóa như A16Z, Paradigm; các nhà tạo lập thị trường nổi tiếng như Wintermute, GSR.
DWF bị các thành viên thị trường tiền mã hóa chỉ trích vì thường xuyên làm mờ ranh giới giữa đầu tư và tạo lập thị trường. Trên website chính thức, DWF tự định vị mình là một quỹ đầu tư mạo hiểm Web3 kiêm nhà tạo lập thị trường, với ba loại hình kinh doanh: đầu tư, OTC và tạo lập thị trường.
Nhìn vào hiệu suất các tài sản liên quan đến DWF trước đây, có thể thấy họ chọn đề tài theo cảm xúc thị trường, các đồng tiền tạo lập thị trường bao gồm CFX, MASK, YGG, C98, WAVES... Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ các trường hợp tạo lập thị trường trước đây sẽ thấy rất ít bằng chứng cho thấy DWF thực sự hỗ trợ dự án phát triển dài hạn. DWF thường chọn rót vốn vào các dự án "khó khăn" đã phát hành token để mua token với chiết khấu, sau đó bán ra thị trường thứ cấp để thu lợi. Trong quá trình này, họ thường tăng giá mạnh các dự án mà họ "đầu tư", ngoài việc bán token giá cao, còn xây dựng hình ảnh kiếm tiền trong tâm trí nhà đầu tư nhỏ lẻ, rồi dùng hình ảnh này như một sản phẩm để bán lại cho các đội dự án; ví dụ như công bố thông tin đầu tư lớn cùng đội dự án, tạo lợi ích giả tạo cho thị trường, thu hút thanh khoản để dễ dàng bán ra.
Hoạt động bề mặt: đầu tư, tạo lập thị trường, OTC, marketing
Bản chất hoạt động: Rót vốn vào các dự án "khó khăn", mua token qua OTC với chiết khấu, bán ra thị trường thứ cấp để thu lợi; tăng giá mạnh để xây dựng thương hiệu, rồi bán thương hiệu này cho đội dự án. Các ví dụ cụ thể như sau:
1. YGG & C98: Mua token qua OTC, tăng giá và bán ra thị trường thứ cấp
Ngày 17 tháng 2 năm 2023, Yield Guild Games (YGG), một guild game trên chuỗi, đã huy động được 13,8 triệu USD thông qua việc bán token, với DWF Labs và A16Z dẫn dắt vòng gọi vốn (YGG đã phát hành token từ năm 2021).
Đáng chú ý, DWF Labs đã nhận 8 triệu token YGG từ kho bạc YGG vào ngày 10 tháng 2, và lần đầu tiên chuyển 700.000 token vào Binance vào ngày 14 tháng 2. Ngày 17 tháng 2, truyền thông đưa tin về khoản đầu tư, sau đó DWF tiếp tục chuyển 3,65 triệu token vào Binance vào ngày 19 tháng 6 và 3,65 triệu token nữa vào ngày 6 tháng 8. Xét biểu đồ giá YGG: ngày 17 tháng 2, YGG tăng mạnh 50% trong ngày do thông tin đầu tư, đóng cửa tăng 33%; sau đó là chuỗi giảm kéo dài 5,5 tháng, đến đầu tháng 8 mới bắt đầu đợt tăng giá mới, YGG tăng hơn 7 lần so với đáy, kết thúc đợt tăng khi DWF chuyển nốt lượng token cuối cùng vào Binance.

Nếu là nhà đầu tư thị trường thứ cấp, tại thời điểm đợt tăng giá YGG bắt đầu, có thể quan sát dữ liệu hợp đồng bất thường. Dữ liệu hợp đồng YGG ban đầu cho thấy khối lượng持仓 tăng vọt, phí ổn định; giữa đợt tăng trưởng tốc độ持仓 chậm lại, phí giảm; cuối đợt tăng do đóng lệnh long nên khối lượng持仓 giảm.

Chiêu thức vận hành tương tự cũng quan sát được ở CYBER: ngày 22 tháng 8, DWF rút 170.000 CYBER từ Binance, lúc đó giá CYBER khoảng 4,5 USD, sau đó giá giảm liên tục, thấp nhất xuống 3,5 USD; 7 ngày sau đợt tăng bắt đầu, giá lên tới 16,2 USD, tăng khoảng 3,6 lần so với thời điểm DWF rút, và tăng khoảng 4,6 lần so với đáy. Là dự án của Binance Launch Pool, CYBER có cấu trúc chip tốt ngay từ đầu, áp lực bán trên thị trường thứ cấp thấp. Việc DWF tham gia CYBER được suy luận là mua và đẩy giá trên thị trường thứ cấp, ít liên quan đến đội dự án (tương tự như PEPE, LADYS trong quý II).

Về dữ liệu vốn, CYBER thể hiện giống YGG: ban đầu khối lượng持仓 tăng mạnh, phí ổn định; giữa đợt tăng trưởng tốc độ持仓 chậm lại, phí giảm; cuối đợt do đóng lệnh long nên khối lượng持仓 giảm.

Ngày 2 tháng 2 năm 2023, địa chỉ trên chuỗi DWF nhận được khoảng 4,12 triệu token C98 từ địa chỉ chính thức Coin98, tương đương khoảng 1,11 triệu USD theo giá thị trường ngày hôm đó (giá C98 khoảng 0,27 USD), sau đó lập tức chuyển vào Binance; ngày 8 tháng 8, Coin98 công bố nhận được đầu tư bảy con số từ DWF Labs để thúc đẩy việc áp dụng Web3 quy mô lớn; ngày 12 tháng 10, theo báo chí, DWF chuyển 1 triệu USDT cho C98. Xét biểu đồ giá C98: sau khi DWF nhận token và chuyển vào sàn, C98 tăng nhẹ rồi rơi vào chuỗi giảm kéo dài 5 tháng; ngày 8 tháng 8, truyền thông đăng bài, giá tăng 58% so với đáy trong 2 ngày, sau đó giảm mạnh. Nhìn lại sự kiện này, bản chất có thể là DWF mua token C98 từ đội dự án với chiết khấu 10%, sau đó bán ra thị trường thứ cấp để thu lợi.

Dữ liệu C98 trước đợt tăng giá cho thấy khối lượng持仓 tăng mạnh, dấu hiệu kết thúc là do đóng lệnh long khiến khối lượng持仓 giảm và phí trở về bình thường.

Các tài sản khác có chiêu thức tăng giá tương tự bao gồm LEVER, WAVES, CFX, MASK, ARPA...

Trên đây là các ví dụ điển hình gần đây về các tài sản DWF vận hành, có thể thấy DWF thường tham gia cả thị trường hợp đồng và giao ngay. Ở giai đoạn đầu đợt tăng, có thể quan sát dòng vốn lớn đổ vào thị trường hợp đồng; do vốn chủ lực ban đầu mở lệnh long nên khối lượng持仓 tăng nhưng không ảnh hưởng đến phí. Giai đoạn giữa thường là đẩy giá giao ngay, vốn chủ lực trên hợp đồng bắt đầu đóng lệnh, biểu hiện bằng giá giao ngay tăng mạnh, phí âm nghiêm trọng trên hợp đồng, khối lượng持仓 ngừng tăng hoặc giảm. Một số tài sản còn có đợt tăng cuối để tạo thanh khoản, giúp vốn chủ lực trên giao ngay bán ra với giá và thanh khoản tốt hơn; một số khác sau khi vốn chủ lực trên hợp đồng đóng lệnh thì đợt tăng kết thúc luôn, tùy vào việc đánh giá ở giai đoạn cuối, lợi nhuận từ việc tiếp tục đẩy giá giao ngay có lớn hơn chi phí hay không (ví dụ như có kháng cự mạnh phía trên hay áp lực bán lớn trên bảng lệnh).
2. Đầu tư "kiểu marketing", chuyển tiền trên chuỗi, dùng thương hiệu tạo lợi thế che giấu việc bán tháo
DWF với tư cách là một quỹ đầu tư mới nổi, thường xuyên hành động trong mùa đông giá, đã hợp tác với hơn 260 dự án; theo báo chí, DWF đã đầu tư vào hơn 100 dự án, trong đó có nhiều khoản đầu tư lớn. Tổng hợp các dự án DWF đầu tư trên 5 triệu USD như sau:

Grachev, đồng sáng lập DWF, cho biết DWF Labs không có nhà đầu tư bên ngoài, nhưng mức độ đầu tư dày đặc và quy mô lớn như vậy khiến thị trường nghi ngờ nguồn vốn đến từ đâu. Hơn nữa, các dự án họ đầu tư phần lớn không phải là xu hướng ngành, ngược lại là những dự án cũ cơ bản trung bình hoặc yếu (như EOS, ALGO...); sau khi DWF công bố đầu tư, không thấy cải thiện về phát triển sản phẩm, marketing hay hợp tác cộng đồng. Có thể đánh giá một số hành vi của DWF là "đầu tư kiểu marketing", tạo lợi thế để thu hút nhà đầu tư nhỏ lẻ, sau đó liên tục thổi giá trên thị trường thứ cấp để đội ngũ bán token ra (FET công bố đầu tư 40 triệu USD, nhưng tính đến nay DWF mới nhận khoảng 3 triệu USD token).
Thêm vào đó, ngày 8 tháng 9, địa chỉ trên chuỗi DWF nhận được chuyển PERP từ Binance, trước đó PERP đã tăng vài lần; sau khi xuất hiện giao dịch rút tiền từ DWF, lượng mua PERP tăng rõ rệt, giá tăng ngắn hạn rồi lao dốc mạnh sau đợt xả lớn, kết thúc đợt tăng.

Ngày 17 tháng 10, BNX công bố hợp tác chiến lược với DWF, trước đó BNX đã tăng mạnh trong một tuần, sau khi thông tin được công bố liền lao dốc, rất có thể là giao dịch nội gián, lợi dụng hiệu ứng thương hiệu DWF để tạo thanh khoản và xả hàng.

Ví dụ đội dự án và DWF lợi dụng ảnh hưởng thương hiệu tạo lợi thế để thu hút thanh khoản và xả hàng xảy ra phổ biến, nhà đầu tư thị trường thứ cấp cần thận trọng khi nhìn thấy thông tin liên quan đến DWF. Nhiều tài sản liên quan đến DWF giá liên tục giảm, như EOS, CELO, FLOW, BICO...
3. Tìm kiếm các dự án "khó khăn", tận dụng khó khăn huy động vốn trong mùa đông giá để giành quyền định giá, tối đa hóa lợi nhuận
Abracadabra (SPELL) là một dự án stablecoin dùng các chứng chỉ tài sản sinh lời (như LP stablecoin trên Curve, chứng chỉ gửi stablecoin trên Yearn...) làm tài sản thế chấp. Sau sự cố sụp đổ UST (UST từng là tài sản底层 quan trọng của Abracadabra, sau khi UST sụp đổ, Abracadabra tích lũy lượng nợ xấu lớn) và mùa đông giá kéo dài khiến vốn hóa stablecoin co lại, TVL của giao thức, giá token đều suy giảm nghiêm trọng, khó phát triển tiếp. Ngày 14 tháng 9, họ thông qua đề xuất AIP#28, nội dung là mời DWF làm nhà tạo lập thị trường cho SPELL, với các điều khoản như sau:
1. Abracadabra cung cấp khoản vay 1,8 triệu USD token SPELL cho DWF trong 24 tháng;
2. DWF sẽ mua 1 triệu USD token với chiết khấu 15% so với giá thị trường từ DAO, lượng token này bị khóa 24 tháng;
3. Abracadabra trả cho DWF một quyền chọn mua kiểu Âu (European call option), ngày thực hiện vào cuối kỳ vay, như một khoản phí tạo lập thị trường.
Trong điều khoản tạo lập thị trường này, chi phí mà dự án Abracadabra phải trả cao hơn rõ rệt so với các dự án tạo lập thị trường khác trong ngành, bao gồm cả việc mua token chiết khấu và quyền chọn kiểu Âu. Do điều khoản có mua token chiết khấu theo giá thị trường, nên từ góc độ DWF, việc giảm giá token trong ngắn hạn sẽ giúp tối đa hóa lợi ích; kết hợp với diễn biến thị trường, giá SPELL sau khi DWF tham gia đã giảm liên tục. Cụ thể như sau:
Đề xuất bắt đầu bỏ phiếu từ ngày 11 tháng 9, thông qua ngày 14 tháng 9, chịu ảnh hưởng thông tin này, giá SPELL tăng từ mức thấp 0,0003716 ngày 11 tháng 9 lên đỉnh 0,0006390 ngày 19 tháng 9, tăng mạnh 72% (do dòng tiền thị trường炒作).
Ngày 19 tháng 9, Abracadabra cung cấp khoản vay 3,3 triệu SPELL cho DWF, sau đó DWF chuyển vào Binance, SPELL đi vào kênh giảm, hiện giao dịch ở mức 0,0004416, giảm 31% so với đỉnh trước đó.

Từ dữ liệu vốn cũng có thể thấy, trong đợt tăng ngắn hạn của SPELL, tính nhất quán của dòng vốn rất kém, 70% đà tăng do nhiều dòng tiền luân phiên đẩy, độ chắc chắn thấp.

Tóm lại: DWF ban đầu tăng giá mạnh để tạo hiệu ứng giàu lên nhanh, xây dựng thương hiệu; bản thân DWF là sản phẩm của mùa đông giá dưới môi trường quản lý yếu, tận dụng khó khăn phát triển của đội dự án và tâm lý nhà đầu tư nhỏ lẻ để kiếm lời kép. Các dự án trong mùa đông giá thường gặp khó khăn trong việc变现 và huy động vốn, bán token trực tiếp lại làm tổn hại lòng tin thị trường mong manh, gây bất lợi nghiêm trọng cho giá token, ảnh hưởng đến hệ sinh thái dự án.
Trong bối cảnh đó, DWF xuất hiện như một cây cầu giúp đội dự án bán token, thông qua OTC hoặc các thủ thuật marketing khác để hỗ trợ đội dự án xả hàng. Ví dụ, hành vi mua token OTC từ đội dự án được miêu tả là "đầu tư chiến lược", nhưng thực tế không thấy hỗ trợ phát triển dài hạn cho dự án mà sau đó bán ngay token; dùng hình thức quảng bá che giấu bản chất đội dự án bán tháo gián tiếp, DWF cũng kiếm lời kép từ cả đội dự án và người dùng trong quá trình này.
Là nhà đầu tư thị trường thứ cấp, khi thấy thông tin một dự án hợp tác với DWF, trước tiên cần phân biệt đây thuộc loại hình kinh doanh nào của DWF (đầu tư thứ cấp, OTC, tạo lập thị trường, marketing), từ đó áp dụng chiến lược phù hợp. Dựa trên hiệu suất thị trường trước đây:
1. Các tài sản DWF trực tiếp đầu tư trên thị trường thứ cấp cần được chú ý đặc biệt, thường là các đồng mới lên sàn có cấu trúc chip tốt hoặc meme coin;
2. Các tài sản DWF mua qua OTC từ đội dự án (được gói thành "đầu tư chiến lược") thường trên thị trường thứ cấp đầu tiên trải qua vài tháng giảm giá, sau đó tăng mạnh đột ngột, kết thúc đợt tăng sau khi DWF nạp token vào sàn (đợt tăng thường không quá 1 tuần);
3. Các dự án DWF thực sự tạo lập thị trường hiếm khi có đợt tăng gấp đôi, nhưng thường thu hút dòng tiền炒作 ngắn hạn, có cửa sổ tích lũy ngắn, nắm bắt kịp thời có thể đi trước một bước;
4. Các đợt tăng do tin tức marketing liên quan DWF có tỷ lệ thắng và tỷ lệ lợi nhuận/rủi ro kém, bản chất là các bên liên quan lợi dụng ảnh hưởng thị trường hiện tại của DWF để thu hút thanh khoản rồi xả hàng.
Sau khi xác định DWF có ý định tăng giá, khối lượng持仓 hợp đồng và khối lượng giao dịch giao ngay tăng vọt là tín hiệu đợt tăng bắt đầu; sự tương tác giữa địa chỉ trên chuỗi DWF với địa chỉ sàn (ở giá cao), khối lượng持仓 giảm, phí cực âm là dấu hiệu đợt tăng sắp kết thúc.
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News














