
Suy nghĩ về cục diện VC tiền mã hóa trong thị trường gấu: Lợi nhuận trên giấy tờ là ảo, yêu cầu hoàn lại tiền từ các công ty được đầu tư ngày càng phổ biến
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Suy nghĩ về cục diện VC tiền mã hóa trong thị trường gấu: Lợi nhuận trên giấy tờ là ảo, yêu cầu hoàn lại tiền từ các công ty được đầu tư ngày càng phổ biến
Thật không may, trong thị trường gấu, việc các nhà VC rút lại thỏa thuận điều khoản và yêu cầu các công ty được đầu tư hoàn trả tiền ngày càng trở nên phổ biến.
Tác giả: RICHARD CHEN, đối tác tại 1confirmation
Biên dịch: TechFlow
Trước tiên, chúng ta cần xác định hai chỉ số quan trọng.
DPI (Phân bổ vốn thực nhận). Đây là số tiền mặt được phân phối cho các nhà đầu tư LP sau khi đã trừ đi phí quản lý và phí hiệu suất. Đây là chỉ số quan trọng nhất đối với LP cho đến nay, bởi vì nó không thể bị thao túng – đây là thước đo trung thực nhất về hiệu quả của một quỹ.
TVPI (Tổng giá trị vốn thực nhận). Đây là giá trị theo thị trường của tất cả tài sản trong quỹ, còn gọi là "lợi nhuận trên sổ sách". Các công ty đầu tư mạo hiểm có rất nhiều quyền tự quyết trong việc định giá tài sản của họ (xem thêm bên dưới), do đó TVPI thường bị thổi phồng. Những LP giỏi dễ dàng đào sâu trong quá trình thẩm định để nhìn thấu những con số TVPI giả tạo.
1. Phần lớn các quỹ có TVPI cao lại có DPI thấp.
Đây chính là cái mà Chamath từng mô tả là "bong bóng Ponzi trong VC", khi bạn trình bày lợi nhuận trên sổ sách cho LP để huy động được các quỹ khổng lồ, từ đó thu về khoản phí quản lý hấp dẫn.
Đặc biệt trong lĩnh vực tiền mã hóa, các nhà đầu tư mạo hiểm có rất nhiều khoảng trống để lựa chọn cách ghi sổ. Ví dụ, một công ty VC đầu tư vào một dự án phát hành token với thời gian khóa kéo dài vài năm và thanh khoản thấp trên sàn giao dịch. Nhiều người sẽ chọn định giá khoản đầu tư này theo giá giao ngay hiện tại mà không giảm giá chút nào, mặc dù họ hoàn toàn không thể bán ra để hiện thực hóa mức lợi nhuận đó. Vì vậy, đây là lý do tại sao những chuỗi L1 mới toanh liên tục huy động được vốn.
Do đó, điều thận trọng là đạt được DPI tốt theo thời gian để chứng minh rằng lợi nhuận của bạn là thật. Có TVPI cao thì tốt, nhưng bạn nên để nó dao động theo thị trường và tiến hành giảm giá các khoản đầu tư khi cần thiết.
2. Phần lớn các quỹ niên khóa 2017–2018 có DPI thấp hơn so với Quỹ I của a16z Crypto.
Rõ ràng, tôi không thể chia sẻ con số chính xác, nhưng việc a16z làm tăng quy mô quỹ lên X lần là điều rất ấn tượng.
a16z là một thương hiệu mạnh, và việc đầu tư vào a16z giống như câu nói "không ai bị sa thải vì chọn IBM" đối với các ủy ban đầu tư LP tổ chức lớn, nơi phải đạt đồng thuận trong mọi quyết định.
Đối với các quỹ ít tên tuổi hơn, nếu lợi nhuận của họ có thể kém hơn, mà LP còn phải chịu thêm rủi ro danh tiếng, thì tại sao họ phải chọn những quỹ đó thay vì a16z? Điều này đặc biệt đúng với các nhà quản lý cá nhân đang gây quỹ cho quỹ thứ hai, trong khi quỹ đầu tiên của họ lại có hiệu suất kém.
3. Các quỹ kỳ hạn một năm huy động vào năm 2021 là một trong những quỹ hoạt động tệ nhất.
"Kỳ hạn một năm" nghĩa là quỹ huy động và triển khai toàn bộ vốn trong vòng một năm, rồi sang năm tiếp theo lại gây quỹ cho quỹ tiếp theo. Bằng cách hỏi thăm các LP tổ chức – những người đã đầu tư trong lĩnh vực VC suốt vài thập kỷ – tôi không thể tìm thấy bất kỳ ví dụ lịch sử nào về quỹ VC kỳ hạn một năm đạt hiệu quả tốt.
Bất kỳ LP tổ chức nào cũng sẽ nói với bạn rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến lợi nhuận quỹ chính là niên khóa, chứ không phải khả năng tiếp cận các giao dịch tốt hay chọn ra các công ty tiềm năng. Nhưng với tư cách là nhà đầu tư mạo hiểm, bạn không thể kiểm soát môi trường vĩ mô. Nhiệm vụ của bạn là phát hiện những người sáng lập và chủ đề tốt nhất trong lĩnh vực chuyên môn của mình, và triển khai vốn từ từ qua nhiều niên khóa để phân tán rủi ro vĩ mô.
Đối với đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực tiền mã hóa, năm 2021 là một năm đặc biệt tồi tệ. Các vòng hạt giống được hoàn tất với mức định giá điên rồ trên 50 triệu USD trước cả khi sản phẩm ra mắt, khiến tỷ lệ rủi ro/lợi nhuận trở nên vô nghĩa. Có quá nhiều startup đang gây quỹ đến mức các VC cảm thấy áp lực phải triển khai vốn. Hơn nữa, các startup tiến hành gọi vốn tiếp theo trong thời gian ngắn, buộc các nhà đầu tư giai đoạn đầu phải thực hiện quyền góp vốn để giữ tỷ lệ sở hữu, ngay cả khi chưa thấy dấu hiệu tăng trưởng sản phẩm rõ rệt. Điều này khiến vốn được triển khai nhanh hơn dự kiến, và buộc các quỹ phải quay lại tìm LP để gây quỹ sớm hơn mong muốn.
4. Hoặc là quỹ hạt giống nhỏ, hoặc là quỹ chỉ số lớn, phần ở giữa là vùng không người.
Đây là một ví dụ điển hình về phép biện chứng (sự kết hợp giữa hai chân lý đối lập cực đoan). Quỹ hạt giống giống như những "xạ thủ bắn tỉa", là nguồn vốn đầu tiên với mức định giá hấp dẫn cho các startup, nơi tỷ lệ rủi ro/lợi nhuận cho phép quỹ có lời chỉ với một thương vụ thành công. Các quỹ lớn giống như những "tàu sân bay", đầu tư đa dạng hóa như một chỉ số, và nắm giữ tỷ lệ sở hữu đáng kể trong hầu hết các công ty sau khi sản phẩm ra mắt.
Quy mô quỹ thường là tín hiệu hợp pháp cho sự cạnh tranh công khai giữa các công ty VC. Các nhà quản lý mới nổi cảm thấy áp lực từ đồng nghiệp, muốn gây quỹ đạt quy mô hàng tỷ đô la Mỹ, nhưng trò chơi quy mô quỹ thường có lợi hơn cho các thương hiệu hiện hữu. Những quỹ hạt giống đã thiếu kiềm chế trong thời kỳ bò và gây quỹ lớn hơn giờ đang rơi vào vị trí "giữa hai lửa": quy mô quá lớn để còn có thể tận dụng cơ hội tăng trưởng trong các thương vụ hạt giống, nhưng lại quá nhỏ để trở thành một thương hiệu lớn được biết đến rộng rãi. Họ không thể gây quỹ quy mô tương tự trong ngắn hạn, mà thu nhỏ quy mô quỹ lại làm giảm phí quản lý.
Việc bạn có thể gây quỹ được một quỹ lớn hơn không có nghĩa là bạn nên làm vậy.
5. Thật không may, trong thị trường gấu, việc các VC rút lại cam kết đầu tư và yêu cầu các công ty portfolio hoàn trả tiền ngày càng phổ biến.
Rút lại một bản thỏa thuận đầu tư nghĩa là công ty VC đã đồng ý đầu tư theo các điều khoản cụ thể, nhưng trong lúc chờ hoàn tất hồ sơ pháp lý thì thị trường tiền mã hóa sụp đổ, và nhà đầu tư quyết định rút lui khỏi giao dịch. Điều này không nhất thiết có nghĩa là nhà đầu tư phải ký giấy tờ; hãy xem thỏa thuận bắt tay của YC để hiểu chuẩn mực ngành. Dù sao thì điều này cũng khiến các nhà sáng lập lùi lại hàng tháng trời, vì họ phải tốn thời gian gây quỹ lại trong một môi trường thậm chí còn tồi tệ hơn.
Yêu cầu hoàn trả từ các công ty portfolio nghĩa là nhà đầu tư đã cấp vốn cho công ty trong thời kỳ bò, nhưng giờ cảm thấy hối tiếc và muốn công ty hoàn tiền lại cho họ. Điều này không tệ bằng việc rút lại cam kết, vì rõ ràng là các nhà sáng lập không có nghĩa vụ phải đồng ý hoàn tiền, nhưng vẫn làm tổn hại đến danh tiếng "thân thiện với founder" của nhà đầu tư mạo hiểm.
Cho đến nay, tôi đã nghe các nhà sáng lập và các nhà đầu tư khác kể rằng có ít nhất năm quỹ đầu tư mạo hiểm tiền mã hóa nổi tiếng đã làm điều này. Cá nhân vi phạm nghiêm trọng nhất đã làm điều này với ít nhất năm công ty khác nhau. Tôi cũng nhận thấy rằng, thường thì các công ty VC càng đầu tư nhiều vào hình ảnh công khai, họ lại càng cảm thấy rằng những hành vi xấu đằng sau hậu trường sẽ thoát khỏi hình phạt.
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News














