
Diêu Tiền: Web3.0, thế hệ internet mới đang đến gần
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Diêu Tiền: Web3.0, thế hệ internet mới đang đến gần
Hiện nay Internet đang ở thời điểm quan trọng chuyển tiếp từ Web2.0 sang Web3.0, việc tăng cường nghiên cứu tiên phong và dự báo chiến lược về Web3.0 rõ ràng có ý nghĩa to lớn đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng Internet trong tương lai của Trung Quốc.
Tác giả: Diêu Tiền – Cục trưởng Cục Quản lý Công nghệ, Ủy ban Chứng khoán Trung Quốc
Biên tập: Trương Lâm
Internet là cuộc cách mạng lớn trong công nghệ truyền thông của nhân loại, tạo ra ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội. Hiện nay, với sự đổi mới liên tục của các công nghệ thông tin, Internet đang có xu hướng tiến hóa sang thế hệ Internet tiếp theo. Sự chuyển mình này có thể sẽ khơi mào một cuộc cách mạng thông tin mới, làm thay đổi sâu sắc hơn nữa đời sống, công việc và mọi mặt xã hội. Trước thời điểm Web1.0 ra đời vào năm 1993, chính phủ Mỹ dưới thời Tổng thống Clinton đã đưa ra chiến lược "Cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia", mạnh tay xây dựng "đại lộ thông tin" cho thời đại kỹ thuật số, từ đó giành được vị thế dẫn đầu toàn cầu về Web1.0 và Web2.0. Sau 30 năm phát triển, Internet hiện nay đang ở thời điểm then chốt chuyển dịch từ Web2.0 sang Web3.0. Việc tăng cường nghiên cứu tiên phong và dự báo chiến lược về Web3.0 chắc chắn mang ý nghĩa quan trọng đối với cơ sở hạ tầng Internet tương lai của Trung Quốc. Bài viết này sẽ phân tích hình thái có thể xảy ra của Web3.0 và đưa ra một số suy nghĩ liên quan, trên cơ sở thực tiễn phát triển Internet trong và ngoài nước cũng như xu hướng tiến hóa công nghệ.
Web3.0 là cơ sở hạ tầng Internet mà người dùng và người xây dựng sở hữu và tin tưởng
Nhà sáng lập kiêm nhà đầu tư Chris Dixon mô tả Web3.0 như một Internet của những người xây dựng và người dùng, trong đó tài sản số đóng vai trò kết nối giữa hai bên. Nhà nghiên cứu Eshita thuộc Messari mô tả hành trình từ Web1.0 đến Web2.0 rồi tới Web3.0 như sau: Web1.0 là “chỉ đọc” (read), Web2.0 là “đọc + viết” (read+write), còn Web3.0 là “đọc + viết + sở hữu” (read+write+own).
Web1.0 là Internet thời kỳ đầu, người dùng chỉ có thể bị động duyệt nội dung văn bản, hình ảnh và video đơn giản, là người tiêu thụ nội dung; họ xem những gì nền tảng Internet cung cấp. Trong thời đại Web2.0, người dùng không chỉ đọc mà còn tự sáng tạo nội dung, đặc biệt nhờ sự phát triển của Internet di động cùng các nền tảng như Youtube, Facebook, WeChat, người dùng có thể sáng tạo và chia sẻ nội dung riêng (gồm văn bản, hình ảnh, video) trên nền tảng, đồng thời giao tiếp, tương tác với người dùng khác. Tuy nhiên, dù ở Web1.0 hay Web2.0, hoạt động trực tuyến của người dùng đều phụ thuộc vào các nền tảng Internet cụ thể; ngay cả khi ở giai đoạn Web2.0, người dùng có thể trở thành người sản xuất nội dung, nhưng quy tắc vẫn do nền tảng Internet đặt ra, người dùng thiếu quyền tự chủ.
Thứ nhất, người dùng thiếu quyền tự chủ về danh tính số. Người dùng chỉ có thể tham gia hoạt động trực tuyến nếu mở tài khoản trên nền tảng Internet, và mất quyền truy cập khi hủy tài khoản. Mỗi lần mở tài khoản, người dùng phải điền lại thông tin cá nhân. Các doanh nghiệp nền tảng Internet xây dựng hệ thống tài khoản riêng, quy tắc mỗi nơi khác nhau, khiến người dùng phải quản lý nhiều tài khoản và mật khẩu. Các hệ thống tài khoản độc lập dễ hình thành “các hòn đảo cô lập”, bất lợi cho phát triển hệ sinh thái Internet, đồng thời dẫn đến các vấn đề như độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh. Gần đây, mô hình Quản lý danh tính liên kết (Federated Identity Management - FIM) ngày càng phổ biến. Mặc dù giảm số lần đăng ký lặp lại và mang lại cảm giác tự chủ nhất định cho người dùng, mô hình này vẫn chưa khắc phục tận gốc nhược điểm của mô hình quản lý danh tính gắn với nền tảng. Danh tính số vẫn bị ràng buộc vào tài khoản cụ thể của từng nền tảng Internet.
Thứ hai, người dùng thiếu quyền tự chủ về dữ liệu cá nhân. Trước các nền tảng Internet lớn, cá nhân người dùng ở thế yếu. Dưới điều kiện “hoặc đồng ý, hoặc không được phục vụ”, người dùng buộc phải chấp nhận việc thu thập dữ liệu cá nhân, thậm chí bị thu thập quá mức. Ngày nay, các nền tảng Internet thâm nhập sâu rộng vào mọi mặt xã hội, cung cấp cho người dùng các dịch vụ như liên lạc, mạng xã hội, mua sắm trực tuyến, thông tin, giải trí... Để sử dụng các dịch vụ này, người dùng buộc phải hy sinh quyền làm chủ dữ liệu. Lượng lớn dữ liệu người dùng tập trung tại các nền tảng Internet, một khi rò rỉ sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền riêng tư người dùng, như trường hợp Facebook từng xảy ra. Một số nền tảng Internet còn có thể lợi dụng ưu thế công nghệ để hướng dẫn, thuyết phục, dụ dỗ người dùng thu thập và sử dụng dữ liệu mà họ không biết, đồng thời dùng thủ thuật kỹ thuật để né tránh ràng buộc pháp lý.
Thứ ba, người dùng thiếu quyền tự chủ trước các thuật toán. Thuật toán là cốt lõi của nền tảng Internet. Nhờ khả năng “mỗi người một giao diện” qua chân dung người dùng, các nền tảng có thể hiểu rõ khách hàng, trở thành vũ khí chiến thắng trong kinh tế mạng. Nhưng gần đây, tình trạng lạm dụng, ác dụng thuật toán ngày càng nổi bật. Ví dụ, dùng dữ liệu lớn để “trừng phạt khách quen”, cùng một sản phẩm/dịch vụ nhưng giá dành cho khách cũ lại cao hơn khách mới; chỉ giới thiệu sản phẩm mang lại lợi ích thương mại tiềm năng, thậm chí hàng giả, hàng kém chất lượng, chứ không phải sản phẩm phù hợp, tốt nhất cho người dùng; khai thác điểm yếu tâm lý, thúc đẩy, thuyết phục, dụ dỗ người dùng chi tiêu quá mức, khiến họ quen với kiểu “bị cho ăn sẵn”, vô thức nghiện các sản phẩm mà thuật toán quảng bá; nguyên lý và tham số thuật toán chỉ một số ít nhân viên vận hành mới biết, dễ dẫn đến chiếm đoạt lợi ích; một số nền tảng thậm chí dùng thuật toán để làm điều xấu, như lan truyền nội dung tục tĩu, thông tin giả giật gân nhằm tăng lưu lượng truy cập.
Web3.0 lấy người dùng làm trung tâm, nhấn mạnh quyền “sở hữu” (own) và tự chủ của người dùng. Thứ nhất, người dùng tự quản lý danh tính (Self-Sovereign Identity - SSI). Người dùng không cần mở tài khoản trên nền tảng Internet, mà nhận diện danh tính số qua cơ chế ký tên và xác minh bằng khóa công khai/khóa riêng. Để xác minh danh tính đáng tin cậy mà không cần tài khoản nền tảng, Web3.0 còn có thể sử dụng công nghệ sổ cái phân tán (Distributed Ledger Technology), xây dựng một Cơ sở hạ tầng Khóa công khai Phân tán (DPKI) và một hệ thống quản lý danh tính số phân tán, đáng tin cậy hoàn toàn mới. Sổ cái phân tán là mô hình tính toán chống sửa đổi tuyệt đối, trên chiếc máy đáng tin này, bên cấp phát, bên giữ và bên xác minh có thể truyền tải niềm tin từ đầu đến cuối.
Thứ hai, trao cho người dùng quyền kiểm soát dữ liệu thực sự. Web3.0 không chỉ cho phép người dùng tự quản lý danh tính, mà còn phá vỡ sự độc quyền dữ liệu vốn có trong mô hình tập trung. Công nghệ sổ cái phân tán cung cấp một phương án bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu hoàn toàn mới, do người dùng kiểm soát. Dữ liệu người dùng được lưu trữ trên sổ cái phân tán sau khi mã hóa. Việc chia sẻ thông tin cá nhân với ai, mục đích gì đều do người dùng quyết định, chỉ dữ liệu cá nhân được người dùng ký xác nhận mới được sử dụng hợp pháp. Thông qua việc xác lập quyền sở hữu suốt vòng đời dữ liệu, các quyền như được biết, được truy cập, được từ chối, được di chuyển, được xóa (quyền được lãng quên), được sửa đổi, được kiểm soát liên tục của chủ thể dữ liệu được bảo đảm hiệu quả hơn.
Thứ ba, nâng cao quyền tự chủ của người dùng trước thuật toán. Hợp đồng thông minh là chương trình có thể gọi được trên sổ cái phân tán, chức năng đầy đủ, linh hoạt, kiểm soát được, có ưu điểm minh bạch, đáng tin cậy, tự động thực thi và buộc thực hiện. Khi được triển khai trên sổ cái phân tán, mã nguồn chương trình sẽ được công khai. Người dùng có thể kiểm tra, xác minh bất kỳ việc lạm dụng, thiên vị hay rủi ro nào từ thuật toán. Hợp đồng thông minh không thể bị sửa đổi, sẽ thực thi theo logic đã định sẵn và cho ra kết quả như mong đợi. Tình trạng thực thi hợp đồng sẽ được ghi lại, giám sát toàn bộ quá trình, thuật toán có thể kiểm toán, cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho người dùng khiếu nại hoặc phản bác. Hợp đồng thông minh không phụ thuộc vào trung tâm nào, bất kỳ người dùng nào cũng có thể khởi xướng và triển khai, tính mở và mã nguồn mở tự nhiên giúp tăng đáng kể khả năng kiểm soát thuật toán của người dùng cuối.
Thứ tư, thiết lập mối quan hệ tin cậy và hợp tác hoàn toàn mới. Trong thời đại Web1.0 và Web2.0, người dùng thiếu lòng tin vào các nền tảng Internet. Trong 20 năm qua, công ty quan hệ công chúng Edelman luôn khảo sát mức độ tin tưởng của công chúng đối với các tổ chức (kể cả các nền tảng thương mại lớn). Kết quả khảo sát năm 2020 cho thấy phần lớn các nền tảng thương mại không thể đặt lợi ích công chúng lên hàng đầu, khó giành được lòng tin tuyệt đối từ công chúng. Trong khi đó, Web3.0 phi tập trung, không có nền tảng nào duy nhất kiểm soát, mỗi dịch vụ đều có nhiều nhà cung cấp. Các nền tảng kết nối nhau qua giao thức phân tán, người dùng có thể chuyển từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác với chi phí cực thấp. Người dùng và người xây dựng bình đẳng, không có chuyện ai kiểm soát ai — đây là lợi thế nổi bật của Web3.0 như một cơ sở hạ tầng phân tán.
Web3.0 là Internet giá trị an toàn, đáng tin cậy
Trong thế giới máy tính, nếu thiếu cơ chế đáng tin cậy, giá trị (Value) được mang và truyền bởi thông tin điện tử rất dễ bị sao chép, thay đổi tùy ý, dẫn đến làm giả giá trị và vấn đề “chi tiêu kép” (Double Spending). Web1.0 và Web2.0 chỉ là mạng thông tin, dù có thể truyền tải thông tin như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, nhưng thiếu công nghệ truyền giá trị an toàn, đáng tin cậy, vì vậy không thể gửi giá trị (như tiền kỹ thuật số) từ điểm đến điểm giống như gửi email hay tin nhắn, mà phải dựa vào hệ thống tài khoản của tổ chức đáng tin cậy để đăng ký, luân chuyển, thanh toán và quyết toán giá trị. Sự xuất hiện của sổ cái phân tán đã tạo ra một công nghệ truyền giá trị cực kỳ an toàn và đáng tin cậy. Dựa trên công nghệ mật mã học và cơ chế đồng thuận phân tán, nó ghi lại toàn bộ quá trình chuyển giá trị (giao dịch) một cách đầy đủ và không thể thay đổi. Ưu thế cốt lõi là không cần phụ thuộc vào tổ chức trung gian cụ thể nào để thực hiện việc truyền giá trị từ điểm đến điểm, giúp Internet chuyển từ mạng thông tin Web1.0/Web2.0 sang Internet giá trị an toàn, đáng tin cậy bậc cao hơn – Web3.0.
Giá trị được đăng ký và truyền tải trên Web3.0 có thể là tiền điện tử hoặc tài sản số. Công nghệ sổ cái phân tán cung cấp bằng chứng quyền lợi duy nhất cho tài sản số. Hàm băm kết hợp dấu thời gian tạo ra số thứ tự đảm bảo tính duy nhất của tài sản số, khó sao chép. Thuật toán đồng thuận phân tán với “một người ghi, nhiều người giám sát” ngăn chặn hiệu quả việc làm giả tài sản số và vấn đề “chi tiêu kép” mà không cần bên trung gian đáng tin cậy. Tài sản số còn có thể đạt được tính không thể thay thế (Non-fungible), ví dụ NFT có thể tồn tại, sở hữu và chuyển nhượng ở trạng thái nguyên vẹn.
Ngoài tài sản gốc trên chuỗi, tài sản số còn có thể đến từ tài sản vật lý ngoài chuỗi như một bức tranh, một ngôi nhà. Làm sao đảm bảo ánh xạ giá trị giữa tài sản số trên chuỗi và tài sản vật lý ngoài chuỗi là vấn đề then chốt. Có thể cân nhắc sử dụng các công nghệ cảm biến nhận dạng dữ liệu như thẻ RFID, cảm biến, mã QR, cùng hệ thống định vị toàn cầu GPS để kết nối vạn vật, tạo thành Internet vạn vật (IoT), kết hợp với Internet và mạng di động hình thành mạng thông tin tổng hợp “thiên-địa-vật-người”, tự động thu thập dữ liệu, giảm thiểu khả năng dữ liệu giả được đưa lên chuỗi ngay từ đầu.
Web3.0 vừa cho phép người dùng tự quản lý danh tính, vừa cho phép tự quản lý địa chỉ phía tài nguyên mạng, thực sự đạt được loại bỏ trung gian trong toàn bộ quá trình truy cập end-to-end. Internet truyền thống là mạng mở toàn cầu, việc truy cập tài nguyên phụ thuộc vào hệ thống tên miền (Domain Name System - DNS) được quản lý tập trung.
DNS, như một cơ sở hạ tầng căn bản nhất của Internet, dù đã được mở rộng và tối ưu hóa từ IPv4 sang IPv6, vẫn có nguy cơ bị thao túng. Web3.0, như một Internet giá trị phi tập trung hoàn toàn mới, cần một hệ thống quản trị tên miền gốc DNS phi tập trung hoàn toàn mới. Về mặt kỹ thuật, điều này có thể thực hiện bằng sổ cái phân tán: bên phát hành tài nguyên tự đăng ký và quản lý tên miền, người dùng tự truy vấn và giải mã tên miền. Không chỉ hỗ trợ tài nguyên thông tin Internet truyền thống, hệ thống này còn có thể đặt tên và giải mã cho các tài sản số nói rộng hơn, thực thể số, blockchain…, giúp hợp đồng thông minh thao tác tài sản số theo cách thuận tiện và dễ đọc hơn, từ đó Web3.0 có thể tương tác tốt hơn giữa không gian số và không gian thực.
Ví dụ, Dịch vụ tên miền Ethereum (Ethereum Name Service - ENS) là một hệ thống tên miền kiểu Web3.0. Đây là hệ thống đặt tên phân tán, mở và mở rộng được xây dựng trên blockchain Ethereum. Nhiệm vụ của ENS là giải mã tên miền dễ đọc (ví dụ “alice.eth”) thành định danh máy tính có thể nhận diện được như địa chỉ Ethereum, hàm băm nội dung, siêu dữ liệu... ENS còn hỗ trợ “giải mã ngược”, cho phép liên kết siêu dữ liệu (tên miền tiêu chuẩn hoặc mô tả giao diện) với địa chỉ Ethereum. Giống như DNS, ENS là hệ thống tên miền phân cấp, các tên miền phân cách bằng dấu chấm, ta gọi mỗi cấp là một “miền”, chủ sở hữu một miền có toàn quyền kiểm soát các miền con. Chủ sở hữu các tên miền cấp cao nhất (ví dụ “.eth”, “.test”) là một loại hợp đồng thông minh gọi là “đăng ký (registrar)”, bên trong quy định các quy tắc phân bổ miền con. Bất kỳ ai cũng có thể theo các quy tắc trong hợp đồng này để sở hữu một tên miền và cấu hình miền con cho bản thân hoặc người khác.
Web3.0 là hệ thống kinh tế mới kiểu cùng xây, cùng chia sẻ giữa người dùng và người xây dựng
Đặc trưng điển hình của nền kinh tế Internet là lấy lưu lượng làm vua – càng nhiều người dùng, giá trị càng cao. Cách biến giá trị người dùng thành tiền đơn giản nhất là quảng cáo. Đến nay, quảng cáo vẫn là nguồn thu quan trọng của ngành Internet. Các nền tảng Internet còn có thể dùng công nghệ phân tích dữ liệu lớn để khai thác đặc điểm, thói quen, nhu cầu và sở thích người dùng từ lượng dữ liệu khổng lồ, từ đó thực hiện tiếp thị chính xác và đề xuất thông minh, hoặc bán sản phẩm phân tích dữ liệu cho bên thứ ba để thu lợi. Trong thời đại Web1.0 và Web2.0, mặc dù người dùng được dùng miễn phí dịch vụ, thậm chí được tặng phiếu giảm giá, hồng bao tiêu dùng khi mới thu hút người dùng. Nhưng người dùng – nguồn gốc giá trị Internet – lại không được hưởng lợi từ giá trị Internet. Dữ liệu người dùng tích lũy từ hệ sinh thái cũng bị các nền tảng Internet chiếm hữu, người dùng – người tham gia và đóng góp quan trọng – không được hưởng lợi.
Web3.0 sẽ tái cấu trúc hình thức tổ chức và mô hình kinh doanh của nền kinh tế Internet. Web1.0 và Web2.0 lấy nền tảng Internet làm trung tâm, các nền tảng tổ chức sản xuất và thu thập thông tin, tạo hiệu ứng mạng qua kết nối nền tảng, giảm chi phí tìm kiếm giữa người sản xuất và người tiêu dùng, tối ưu hóa cung cầu, vì vậy được gọi là nền kinh tế nền tảng. Web3.0 sử dụng công nghệ sổ cái phân tán để xây dựng môi trường mở, khuyến khích sự phối hợp, gọi là Tổ chức Tự trị Phi tập trung (Decentralized Autonomous Organization - DAO). Trong môi trường này, nhiều cá nhân xa lạ tự nguyện tham gia vào công việc cộng tác phân tán kiểu “không tổ chức”, đầu tư, vận hành, quản lý dự án như doanh nghiệp truyền thống, đồng thời cùng sở hữu cổ phần (Stake) và tài sản. Quyết định dự án dựa trên quản trị dân chủ, do người tham gia bỏ phiếu chung, các việc sau quyết định được thực hiện tự động bằng hợp đồng thông minh. DAO là một “lực lượng tổ chức không hình thức tổ chức”, không có hội đồng quản trị, không điều lệ công ty, không cấp bậc nghiêm ngặt, không quản lý tập trung, loại bỏ trung gian, bình đẳng điểm-điểm. Người dùng cùng sáng tạo, cùng xây dựng, cùng quản trị, vừa là người tham gia, người xây dựng mạng lưới, vừa là nhà đầu tư, chủ sở hữu và người chia sẻ giá trị.
Trong thời đại Web3.0, các nhà phát triển có thể tạo ra các ứng dụng tùy ý, dựa trên sự đồng thuận, có thể mở rộng, chuẩn hóa, đầy đủ Turing, dễ phát triển và hợp tác. Bất kỳ ai cũng có thể thiết lập quy tắc sở hữu và cách giao dịch tự do trong hợp đồng thông minh, từ đó phát triển các ứng dụng thương mại phân tán, xây dựng nền tài chính lập trình, nền kinh tế lập trình mới. Một hợp đồng thông minh có thể chính là một mô hình kinh doanh, với không gian tưởng tượng vô hạn, người dùng sẽ cùng chia sẻ lợi ích khi các dự án thương mại lập trình này phát triển lớn mạnh.
Như đã nói, Web3.0 còn trao cho người dùng quyền kiểm soát dữ liệu thực sự. Thông tin cá nhân sẽ trở thành tài sản dữ liệu do người dùng tự kiểm soát. Người dùng có thể thực sự được lợi từ việc luân chuyển và giao dịch dữ liệu, khiến dữ liệu của họ không còn là tài nguyên miễn phí cho nền tảng Internet.
Web3.0 là Internet thông minh, toàn diện, đa chiều
Siêu văn bản (Hyper Text) và trình duyệt web (Web Browser) là công nghệ then chốt của Web1.0 và Web2.0. Máy chủ World Wide Web (WWW) dùng Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML) để tổ chức thông tin thành siêu văn bản kết hợp hình ảnh và chữ. Trình duyệt WWW và máy chủ dùng Giao thức truyền siêu văn bản (HTTP) để truyền các trang siêu văn bản và dữ liệu. Trình duyệt WWW hiển thị file HTML theo cách dễ đọc trên giao diện người dùng đồ họa (GUI). Nhờ đó, người dùng có thể đọc, duyệt file HTML trên giao diện, đồng thời dùng dấu hiệu siêu liên kết đính kèm trong file HTML để nhảy từ file HTML trên máy tính này sang file HTML trên máy tính khác trong mạng. Tập hợp vô số website và trang web được nối với nhau bằng công nghệ siêu văn bản chính là World Wide Web. WWW cho phép con người toàn cầu chưa từng có kết nối vượt địa giới, tìm kiếm, duyệt, truyền, chia sẻ thông tin qua Internet. Nhưng con người không dừng lại ở đó. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, thế hệ Internet mới sẽ thông minh hơn.
Internet thông tin hiện tại tổ chức thông tin qua ngôn ngữ máy chuẩn, dù hiển thị dưới dạng ngôn ngữ tự nhiên của con người trên trình duyệt, nhưng tầng底层 vẫn là ngôn ngữ máy, trình duyệt không hiểu được ý nghĩa thật sự của nội dung trang web. Internet thế hệ mới không chỉ kết hợp thông tin mà còn có thể đọc thông tin như con người, tự học và suy luận tri thức theo cách tương tự, cung cấp thông tin chính xác, đáng tin cậy hơn cho con người, làm cho tương tác giữa người và Internet tự động, thông minh và nhân văn hơn. Người phát minh WWW, Tim Berners-Lee, đã đề xuất khái niệm Mạng Ngữ nghĩa (Semantic Web) năm 1998. Mạng ngữ nghĩa là mạng thông minh có thể ra phán đoán theo ngữ nghĩa, được coi là một đặc điểm của Web3.0. Dưới sự thúc đẩy của tổ chức quốc tế Liên minh WWW (W3C), kiến trúc và tiêu chuẩn kỹ thuật mạng ngữ nghĩa đang được xây dựng, như RDF/RDFS, OWL, SPARQL...
Web3.0 không chỉ là Internet thông minh mà còn là Internet toàn diện, đa chiều, cung cấp mức độ tương tác, đắm chìm và tham gia chưa từng có cho người dùng, chính là Metaverse (vũ trụ ảo) đang được bàn tán sôi nổi hiện nay. Người dùng có thể hình dung Metaverse như một Internet thực thể, nơi họ không chỉ là khán giả mà là diễn viên trong đó. Để đạt được mức độ chân thực và đắm chìm cao như vậy, cần nhiều công nghệ tiên tiến hỗ trợ. Thứ nhất là công nghệ thực tế ảo. Để mang lại trải nghiệm thực tế ảo chân thực, đắm chìm và đa giác quan hơn, Web3.0 cần các thiết bị tiên tiến như thiết bị AR/VR đắm chìm, giao diện não-máy, găng tay xúc giác, áo bó xúc giác, cùng các công nghệ như hình đại diện (Avatar), bắt chuyển động, nhận dạng cử chỉ, cảm nhận không gian, song sinh kỹ thuật số... Như trong phim "Ready Player One", người chơi đội thiết bị VR, đứng trên bệ di chuyển để bước vào thế giới ảo. Trong thế giới ảo, mọi động tác khớp hoàn toàn với cảm giác cơ thể thật, ngoài thị giác và thính giác, cảm giác xúc giác trong thế giới ảo cũng có thể truyền thật về cơ thể người chơi qua áo may bằng vật liệu đặc biệt. So với Web1.0 và Web2.0 chỉ truyền được thị giác và thính giác, thì đây là bước tiến lớn. Thứ hai là các công nghệ 5G, điện toán biên, điện toán đám mây, AI, kết xuất hình ảnh... Để truyền tải cảm giác tương tác như thực tế, Web3.0 cần công nghệ truyền thông băng thông cao tiên tiến, giúp các thiết bị đầu cuối kết nối mạng mọi lúc mọi nơi với độ trễ thấp. Ví dụ, nhờ kết xuất hình ảnh và AI, có thể nâng cao mức độ chân thực thời gian thực trong thế giới ảo, loại bỏ cảm giác méo mó; điện toán đám mây mang lại trải nghiệm tương tác và chia sẻ quy mô lớn mượt mà, phản hồi tức thì, ổn định lâu dài và chia sẻ ảo. Thứ ba là chip. Để hỗ trợ lượng tính toán và truyền dữ liệu khổng lồ, Web3.0 cần sức mạnh xử lý cực mạnh, mà nền tảng của sức mạnh xử lý lại phụ thuộc vào chip hiệu suất cao.

Chiến lược đổi mới phát triển Web3.0
Web3.0 có tiềm năng cải thiện đáng kể hệ sinh thái Internet hiện tại, giải quyết hiệu quả các vấn đề như độc quyền, thiếu bảo vệ quyền riêng tư, thuật toán ác dụng trong thời đại Web2.0, làm cho Internet trở nên cởi mở, phổ quát và an toàn hơn, hướng tới phát triển Internet đáng tin cậy, Internet giá trị, Internet thông minh, Internet toàn diện ở bậc cao hơn. Là cơ sở hạ tầng công cộng, việc xây dựng Web3.0 không chỉ cần phát huy tinh thần đổi mới của khu vực tư nhân, thông qua đổi mới đại chúng, cạnh tranh chọn lựa ưu việt, mà còn cần thiết kế tầm nhìn quốc gia và khung quản trị mềm dẻo nhưng nghiêm ngặt để định hướng và dẫn dắt.
Thứ nhất, xây dựng cơ sở hạ tầng phân tán chất lượng cao. Nhiều chuyên gia ngành coi Web3.0 là “vụ nổ Cambri” về đổi mới. Tuy nhiên, nhiều yếu tố công nghệ và cơ sở hạ tầng hiện vẫn chưa hoàn thiện, như công cụ phát triển, tiêu chuẩn kỹ thuật, mô hình kinh doanh, quản lý danh tính phân tán… đều ở giai đoạn sơ khai. Đề xuất tăng đầu tư nghiên cứu, phát triển và bố trí sản xuất cho các lĩnh vực như chip, mật mã học, Internet vạn vật; trên cơ sở đó xây dựng cơ sở hạ tầng dữ liệu mới với quyền sở hữu rõ ràng, trách nhiệm minh bạch, an toàn kiểm soát và sử dụng hiệu quả.
Thứ hai, thúc đẩy đổi mới công nghệ được quản trị tốt. Thông qua cơ chế thí điểm đổi mới, tạo không gian đổi mới “an toàn” cho tài chính lập trình và kinh tế lập trình mới, giảm chi phí đổi mới và rủi ro chính sách. Trong quá trình thí điểm, liên tục cải thiện trọng tâm, công cụ, phương pháp, quy tắc và sắp xếp thể chế quản lý, đạt được cân bằng giữa đổi mới và an toàn. Khám phá xây dựng khung quản lý mới lấy người dùng làm điểm khởi đầu, người xây dựng làm trung tâm, hợp đồng thông minh làm trọng tâm, tăng cường phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. Tăng cường quản trị mạng Web3.0, bảo vệ chủ quyền số quốc gia, tránh để mạng phân tán trở thành “thiên đường” cho mạng ẩn, mạng giao dịch bất hợp pháp, rửa tiền.
Thứ ba, xây dựng tiêu chuẩn chung, tăng tính tương tác. TCP/IP, HTTP, SMTP, TLS/SSL là các giao thức chuẩn của Web2.0, là nền tảng hợp tác, mở hiện tại của Internet. Tương tự, Web3.0 cũng cần xây dựng tiêu chuẩn chung, tránh để các mạng phân tán trở thành hòn đảo mới. Chính phủ cần hỗ trợ việc xây dựng tiêu chuẩn, đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng tiêu chuẩn ngành, quốc gia và quốc tế.
Thứ tư, xây dựng quy tắc thuế rõ ràng, công bằng. Tăng cường nghiên cứu lý luận và thăm dò thực tiễn về thuế số, theo dõi sát sao tiến triển cải cách thuế số quốc tế, tích cực tham gia xây dựng quy tắc thuế quốc tế, kết hợp thực tế phát triển kinh tế số của Trung Quốc để xây dựng hệ thống thuế số chuẩn mực, công bằng, khoa học và hợp lý.
Thứ năm, xây dựng khung pháp lý cho DAO. DAO là “tổ chức” kiểu “không hình thức tổ chức”, là cơ chế hợp tác kinh tế mới của Web3.0. Đề xuất ở cấp quốc gia xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho DAO, để nó thực hiện các nghĩa vụ và quyền lợi pháp lý như doanh nghiệp thông thường, như khai báo, nộp thuế, mở tài khoản ngân hàng, ký kết thỏa thuận pháp lý... từ đó mở rộng không gian đổi mới tuân thủ cho nền kinh tế phân tán.
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News














