
Ray Dalio cảnh báo: Lịch sử đang lặp lại, chúng ta còn cách sụp đổ toàn diện bao xa?
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Ray Dalio cảnh báo: Lịch sử đang lặp lại, chúng ta còn cách sụp đổ toàn diện bao xa?
Tạo ra các mối quan hệ đôi bên cùng có lợi một cách hiệu quả thông qua sự hợp tác nhuần nhuyễn—cùng nhau làm lớn chiếc bánh và phân chia công bằng—để đa số mọi người cảm thấy hạnh phúc, điều này có giá trị hơn nhiều so với việc tiến hành nội chiến vì của cải và quyền lực, dẫn đến một bên thống trị và nô dịch bên kia, đồng thời cũng ít đau khổ hơn rất nhiều.
Tác giả: Ray Dalio
Biên dịch: TechFlow
Giới thiệu của TechFlow: Nhà đầu tư huyền thoại Ray Dalio đã đưa ra cảnh báo nghiêm trọng về tình trạng bất ổn toàn cầu hiện nay, dựa trên lý thuyết “Chu kỳ Lớn” (Big Cycle) của ông. Ông phân tích chi tiết cách xã hội trượt từ Giai đoạn 5—khi bất bình đẳng trong phân phối của cải và phá sản tài chính lên đến đỉnh điểm—sang Giai đoạn 6—khi xung đột bùng nổ. Bài viết này không chỉ là tổng kết các quy luật lịch sử, mà còn là chẩn đoán sâu sắc cục diện chính trị – kinh tế hiện tại của Hoa Kỳ và toàn thế giới. Bằng cách so sánh với thời kỳ sụp đổ 1930–1945, Dalio chỉ ra những tín hiệu nguy hiểm như sự thất bại của các quy tắc, mức độ cực hóa ngày càng gia tăng và sự suy mất niềm tin vào chân lý.
Với tôi, việc quan sát những gì đang diễn ra lúc này giống như xem một bộ phim mà tôi đã từng xem rất nhiều lần trong lịch sử. Tôi là một nhà đầu tư vĩ mô toàn cầu, và cách tôi đặt cược vào tương lai là thông qua việc học hỏi bài học lịch sử để hiểu rõ các cơ chế vận hành nền tảng của mọi sự việc. Tôi nhận thấy những điều đang xảy ra hiện nay đã lặp lại nhiều lần vì cùng những nguyên nhân ấy, và việc thấu hiểu mối quan hệ nhân quả giữa chúng mang lại lợi ích to lớn cho tôi.
Tôi hiện đang ở một giai đoạn trong đời khi mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm từng giúp ích cho tôi mạnh hơn mong muốn giữ riêng chúng vì lợi ích cá nhân. Vì lý do đó, trong cuốn sách Nguyên tắc Ứng phó với Trật tự Thế giới Đang Thay đổi (Principles for Dealing with the Changing World Order), tôi đã mô tả chuỗi sự kiện điển hình dẫn tới sự hưng thịnh và suy vong của các trật tự tiền tệ (monetary orders), trật tự chính trị nội bộ (domestic political orders) và trật tự địa chính trị quốc tế (international geopolitical orders). Tôi gọi chuỗi sự kiện này là “Chu kỳ Lớn” (Big Cycle), bởi vì quy mô của nó rất lớn và thời gian tồn tại rất dài—thường kéo dài khoảng 80 năm (tức xấp xỉ tuổi thọ một đời người).
Lần gần nhất các trật tự này sụp đổ là trong giai đoạn 1930–1945, dẫn tới sự khởi đầu của các trật tự tiền tệ, chính trị nội bộ và địa chính trị quốc tế sau chiến tranh vào năm 1945—những trật tự mà hiện nay chúng ta đang chứng kiến sự sụp đổ. Cuốn sách của tôi mô tả đầy đủ các triệu chứng giúp xác định vị trí hiện tại của chúng ta trong “Chu kỳ Lớn”, cũng như những lực lượng thúc đẩy chu kỳ này. Quan trọng nhất, tôi trình bày chi tiết quá trình và chuỗi sự kiện thường dẫn tới sự sụp đổ của trật tự tiền tệ, trật tự chính trị nội bộ và trật tự địa chính trị quốc tế, nhằm giúp độc giả so sánh chuỗi sự kiện thực tế đang diễn ra với khuôn mẫu được liệt kê trong sách.
Đối với những độc giả đã đọc cuốn sách này, giờ đây hẳn đã rất rõ ràng rằng chúng ta đang đứng bên bờ vực chuyển từ Giai đoạn 5 (ngay trước khi trật tự hiện hành sụp đổ) sang Giai đoạn 6 (trong lúc trật tự hiện hành đang sụp đổ).
Mục đích ban đầu tôi viết cuốn sách này là: 1) Giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ quá trình dẫn tới sụp đổ và ngăn chặn nó; 2) Giúp mọi người bảo vệ bản thân trước những tổn hại do các cuộc sụp đổ này gây ra. Khi thực hiện điều này, tôi nhận thức rõ rằng lời giải thích của mình có thể sẽ không tạo ra ảnh hưởng thực chất nào đối với tiến trình phát triển thực tế. Và thực tế đúng là như vậy.
Dẫu vậy, vì hiện nay chúng ta rõ ràng đang đứng bên bờ vực chuyển từ Giai đoạn 5 (trước sụp đổ) sang Giai đoạn 6 (đang sụp đổ), và những lựa chọn được đưa ra lúc này có thể tác động mạnh mẽ tới kết quả cuối cùng, tôi thấy cần thiết phải một lần nữa nhấn mạnh những yếu tố động lực then chốt ẩn sau hiện trạng, đồng thời làm rõ đâu là những lựa chọn sẽ dẫn tới kết quả tốt hơn hoặc tồi tệ hơn.
Để minh họa rõ điều này, tôi sẽ tóm lược ngắn gọn phần liên quan nhất trong cuốn Nguyên tắc Ứng phó với Trật tự Thế giới Đang Thay đổi, đặc biệt là những luận điểm về cách Giai đoạn 5 (giai đoạn tiền sụp đổ của trật tự) dẫn tới Giai đoạn 6 (giai đoạn sụp đổ của trật tự). Điều này sẽ giúp bạn so sánh hiện trạng với khuôn mẫu “Chu kỳ Lớn” của tôi. Cần lưu ý rõ rằng, dù khả năng khôi phục trật tự tiền tệ thông qua kỷ luật tài chính cần thiết là cực kỳ mong manh, và triển vọng tái lập lại trật tự chính trị nội bộ và địa chính trị quốc tế dựa trên pháp luật—yếu tố then chốt cho việc giải quyết hòa hoãn các bất đồng và duy trì nền dân chủ—cũng rất đáng nghi ngờ, nhưng những cải thiện này vẫn còn khả thi, bởi vì chúng ta chưa hoàn toàn bước qua ngưỡng cửa từ Giai đoạn 5 sang Giai đoạn 6.
Dưới đây là trích đoạn từ cuốn sách mô tả bức tranh này. Sau khi chia sẻ, tôi sẽ giải thích cách những nội dung tôi viết cách đây năm năm áp dụng vào tình hình hiện nay (xem phần tiếp theo “Vị trí hiện tại của chúng ta”).
“Giai đoạn 5: Khi tình hình tài chính tồi tệ và xung đột gay gắt”
“Vì tôi đã trình bày toàn diện chu kỳ này trong Chương 3 và Chương 4 nên tôi sẽ không giải thích chi tiết ở đây. Tuy nhiên, để hiểu Giai đoạn 5, bạn cần biết rằng nó liền kề sau Giai đoạn 3 (hòa bình và thịnh vượng, điều kiện nợ và tín dụng thuận lợi) và Giai đoạn 4 (sự thái quá và sa đọa bắt đầu khiến điều kiện xấu đi). Quá trình này đạt đỉnh điểm ở Giai đoạn 6—giai đoạn khó khăn và đau đớn nhất—khi nguồn lực tài chính quốc gia cạn kiệt, thường dẫn tới những cuộc xung đột khủng khiếp dưới dạng cách mạng hoặc nội chiến. Giai đoạn 5 là thời kỳ căng thẳng giữa các giai cấp (interclass) đạt tới đỉnh điểm do tình hình tài chính xấu đi. Cách các nhà lãnh đạo khác nhau, các nhà hoạch định chính sách và các nhóm dân cư xử lý xung đột sẽ ảnh hưởng lớn tới việc quốc gia có thể thực hiện những biến đổi cần thiết một cách hòa bình hay bằng bạo lực.”
“Tổ hợp độc hại kinh điển”
“Tổ hợp độc hại kinh điển gây ra xung đột nội bộ nghiêm trọng gồm ba yếu tố: 1) Quốc gia và người dân (hoặc các tiểu bang, thành phố) rơi vào tình trạng tài chính tồi tệ (ví dụ: gánh nặng nợ khổng lồ và nghĩa vụ phi nợ rất lớn); 2) Khoảng cách thu nhập, của cải và giá trị trong nội bộ thực thể này rất lớn; 3) Xảy ra cú sốc kinh tế tiêu cực nghiêm trọng.”
“Sự giao thoa của ba yếu tố này thường dẫn tới hỗn loạn, xung đột và đôi khi thậm chí là nội chiến.”
“Để đạt được hòa bình và thịnh vượng, xã hội phải có năng suất (productivity) mang lại lợi ích cho đa số người dân.
Không phải mức trung bình mà tỷ lệ người đang chịu khổ và sức mạnh của họ mới là yếu tố quan trọng. Nói cách khác, khi thiếu năng suất và thịnh vượng rộng khắp, rủi ro sẽ gia tăng.”
Một yếu tố then chốt để thành công là khoản nợ và tiền được tạo ra phải được sử dụng để nâng cao năng suất và mang lại lợi nhuận đầu tư có lợi, chứ không chỉ đơn thuần được phân phối trực tiếp mà không tạo ra tăng trưởng năng suất và thu nhập. Nếu chỉ phân phối mà không tạo ra những lợi ích này, đồng tiền sẽ mất giá đến mức chính phủ hoặc bất kỳ chủ thể nào khác đều mất khả năng mua sắm.
Lịch sử cho thấy rằng việc sử dụng khoản vay và chi tiêu vào các dự án nâng cao năng suất rộng khắp và mang lại lợi nhuận đầu tư (với lợi nhuận vượt chi phí đi vay) sẽ làm tăng mức sống và thanh toán được nợ, do đó đây là những chính sách tốt.”
“Lịch sử và logic đều chứng minh rằng đầu tư chất lượng cao vào giáo dục ở mọi cấp độ (bao gồm đào tạo nghề), hạ tầng cơ sở và nghiên cứu tạo ra những phát hiện mang tính sản xuất là vô cùng hiệu quả. Ví dụ, các chương trình giáo dục và hạ tầng quy mô lớn gần như luôn sinh lời (ví dụ như trong thời kỳ nhà Đường và nhiều triều đại Trung Hoa khác, Đế chế La Mã, Quốc gia Hồi giáo Umayyad, Đế chế Mughal ở Ấn Độ, Thời Minh Trị ở Nhật Bản, cũng như các kế hoạch phát triển giáo dục trong vài thập kỷ qua của Trung Quốc), mặc dù hiệu quả của chúng thường chậm mới hiện rõ. Thực tế, việc cải thiện giáo dục và hạ tầng cơ sở—kể cả những cải thiện được tài trợ bằng nợ—gần như là thành tố thiết yếu trong mọi đế chế hưng thịnh, trong khi sự suy giảm chất lượng các khoản đầu tư này gần như luôn là thành tố dẫn tới sự suy vong của đế chế. Nếu được thực hiện đúng cách, những can thiệp này có thể bù đắp cho ‘tổ hợp độc hại kinh điển’. Nhưng ở Giai đoạn 5, điều này sẽ không xảy ra.”
Tất cả những điều trên khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương hơn trước các cú sốc kinh tế.
“Các cú sốc kinh tế có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm bong bóng tài chính vỡ, thiên tai (như đại dịch, hạn hán và lũ lụt) cũng như chiến tranh. Chúng tạo ra một bài kiểm tra áp lực. Tình trạng tài chính tại thời điểm bài kiểm tra áp lực diễn ra (được đo bằng thu nhập so với chi tiêu, tài sản so với nợ) chính là bộ giảm chấn. Quy mô khoảng cách thu nhập, của cải và giá trị là chỉ số tốt nhất phản ánh mức độ dễ tổn thương của hệ thống.”
“Khi các vấn đề tài chính nảy sinh, chúng thường ảnh hưởng trước tiên tới khu vực tư nhân, sau đó mới lan sang khu vực công. Vì chính phủ không bao giờ để các vấn đề tài chính của khu vực tư nhân làm sụp đổ toàn bộ hệ thống, nên tình trạng tài chính của chính phủ là yếu tố quan trọng nhất. Sự sụp đổ xảy ra khi chính phủ mất khả năng mua sắm. Tuy nhiên, trên con đường dẫn tới sụp đổ, sẽ diễn ra hàng loạt cuộc đấu tranh giành tiền bạc và quyền lực chính trị.”
“Qua nghiên cứu hơn 50 cuộc nội chiến và cách mạng, có thể thấy rõ ràng rằng chỉ số dẫn trước đáng tin cậy nhất cho một cuộc nội chiến hoặc cách mạng là tình trạng phá sản tài chính của chính phủ (bankrupt government finances) kết hợp với khoảng cách giàu – nghèo khổng lồ. Nguyên nhân là khi chính phủ thiếu sức mạnh tài chính, nó sẽ không thể cứu trợ tài chính các thực thể tư nhân mà nó cần cứu để duy trì hoạt động của hệ thống (giống như hầu hết các chính phủ, đứng đầu là Hoa Kỳ, đã làm vào cuối năm 2008), không thể mua sắm những thứ cần thiết và cũng không thể trả lương cho người dân để họ thực hiện những nhiệm vụ mà chính phủ yêu cầu. Nó mất đi quyền lực.”
“Một dấu hiệu kinh điển của Giai đoạn 5—đồng thời cũng là chỉ số dẫn trước việc mất khả năng vay và chi tiêu (một trong những yếu tố kích hoạt chuyển sang Giai đoạn 6)—là chính phủ thâm hụt khổng lồ, tạo ra lượng nợ vượt xa mức mà các chủ thể mua ngoài Ngân hàng Trung ương chính phủ sẵn sàng mua. Chỉ số dẫn trước này được kích hoạt khi một chính phủ không có quyền in tiền buộc phải tăng thuế mạnh và cắt giảm chi tiêu, hoặc khi một chính phủ có quyền in tiền in tiền ồ ạt và mua lượng lớn trái phiếu chính phủ. Cụ thể hơn, khi chính phủ cạn kiệt nguồn lực tài chính (do thâm hụt khổng lồ, nợ chồng chất và không thể tiếp cận nguồn tín dụng dồi dào), các lựa chọn của nó trở nên rất hạn chế. Chính phủ sẽ phải tăng thuế mạnh và cắt giảm chi tiêu, hoặc in tiền ồ ạt—dẫn tới đồng tiền mất giá. Các chính phủ có quyền in tiền luôn chọn phương án sau, vì đây là con đường ít đau đớn hơn nhiều, nhưng nó khiến các nhà đầu tư chạy khỏi đồng tiền và trái phiếu đang bị in ồ ạt. Còn các chính phủ không có quyền in tiền thì buộc phải tăng thuế và cắt giảm chi tiêu, dẫn tới giới giàu có rời bỏ quốc gia (hoặc tiểu bang, thành phố) đó, bởi việc đóng thuế cao hơn và mất đi các dịch vụ công là điều không thể chịu đựng nổi. Nếu những thực thể không có quyền in tiền này tồn tại khoảng cách giàu – nghèo lớn trong cử tri của mình, các biện pháp trên thường dẫn tới một dạng nội chiến/cách mạng nào đó.”
“Những nơi (thành phố, tiểu bang và quốc gia) có khoảng cách giàu – nghèo lớn nhất, nợ cao nhất và mức thu nhập giảm mạnh nhất sẽ có khả năng cao nhất xảy ra xung đột dữ dội nhất. Điều thú vị là tại Hoa Kỳ, những tiểu bang và thành phố có mức thu nhập và của cải bình quân đầu người cao nhất thường cũng là những nơi có gánh nặng nợ nặng nề nhất và khoảng cách giàu – nghèo lớn nhất—ví dụ như San Francisco, Chicago và Thành phố New York, cũng như các tiểu bang Connecticut, Illinois, Massachusetts, New York và New Jersey.”
“Trước những điều kiện này, chi tiêu phải bị cắt giảm, hoặc phải tìm cách nào đó để huy động thêm nguồn lực tài chính. Câu hỏi tiếp theo sẽ là: Ai sẽ trả chi phí để khắc phục những vấn đề này—những người “có” (haves) hay những người “không có” (have-nots)? Rõ ràng, không thể là những người “không có”. Việc cắt giảm chi tiêu gây tổn thương nặng nề nhất cho những người nghèo nhất, do đó phải đánh thuế cao hơn vào những người có khả năng chi trả nhiều hơn, điều này làm gia tăng rủi ro của một dạng nội chiến hoặc cách mạng nào đó. Tuy nhiên, khi những người “có” nhận ra rằng họ sẽ bị đánh thuế để trả nợ và giảm thâm hụt, họ thường chọn rời đi, dẫn tới quá trình “rỗng ruột” (hollowing-out). Đây chính là nguyên nhân thúc đẩy hiện tượng di cư giữa các tiểu bang tại Hoa Kỳ hiện nay. Nếu tình hình kinh tế tiếp tục xấu đi, quá trình này sẽ diễn ra nhanh hơn. Những tình huống này phần lớn chi phối chu kỳ thuế.”
“Lịch sử cho thấy, việc tăng thuế và cắt giảm chi tiêu trong bối cảnh khoảng cách giàu – nghèo lớn và điều kiện kinh tế tồi tệ là chỉ số dẫn trước mạnh nhất cho một dạng nội chiến hoặc cách mạng nào đó—so với bất kỳ yếu tố nào khác.”
“Chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa cực đoan”
“Trong bối cảnh hỗn loạn và bất mãn, những nhà lãnh đạo có cá tính mạnh mẽ, chống lại giới tinh hoa và tuyên bố đấu tranh cho người dân bình thường sẽ xuất hiện. Họ được gọi là những nhà dân túy (populists). Chủ nghĩa dân túy là một hiện tượng chính trị – xã hội thu hút những người dân bình thường cảm thấy tiếng nói của mình không được giới tinh hoa lắng nghe. Nó thường phát triển trong bối cảnh tồn tại khoảng cách giàu – nghèo và cơ hội, cảm giác bị đe dọa bởi những giá trị văn hóa khác biệt từ trong và ngoài nước, cũng như giới “tinh hoa thiết lập” (establishment elites) nắm giữ vị trí cao không thể hoạt động hiệu quả vì lợi ích của đa số. Khi những điều kiện này làm dấy lên sự phẫn nộ trong dân chúng, thúc đẩy họ mong muốn có những chiến binh nắm quyền lực chính trị để đấu tranh thay mình, thì những nhà dân túy sẽ lên nắm quyền.
Các nhà dân túy có thể thuộc cánh hữu hoặc cánh tả, và họ cực đoan hơn nhiều so với các nhà ôn hòa (moderates), thường viện dẫn cảm xúc của người dân bình thường. Họ thường mang tính đối kháng hơn là hợp tác, và loại trừ hơn là bao dung. Điều này dẫn tới những cuộc đấu tranh dữ dội giữa các nhà dân túy cánh tả và cánh hữu do những bất đồng không thể hòa giải. Cách mạng do họ lãnh đạo có mức độ cực đoan khác nhau. Ví dụ, trong những năm 1930, chủ nghĩa dân túy cánh tả mang hình thức cộng sản, còn cánh hữu là chủ nghĩa phát xít, trong khi Hoa Kỳ và Anh trải qua những biến đổi cách mạng phi bạo lực. Ngoài ra, bốn quốc gia dân chủ đã trở thành các nhà nước chuyên chế.”
“Gần đây tại Hoa Kỳ, việc Donald Trump đắc cử năm 2016 đánh dấu sự chuyển dịch sang chủ nghĩa dân túy cánh hữu, trong khi mức độ phổ biến của Bernie Sanders, Elizabeth Warren và Alexandria Ocasio-Cortez phản ánh sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy cánh tả. Tại nhiều quốc gia khác, các phong trào chính trị hướng tới chủ nghĩa dân túy cũng đang gia tăng.”
“Hãy quan sát chủ nghĩa dân túy và sự cực hóa (polarization) như những dấu hiệu cảnh báo. Mức độ chủ nghĩa dân túy và cực hóa càng cao, quốc gia đó càng tiến xa vào Giai đoạn 5 và càng gần với nội chiến và cách mạng. Ở Giai đoạn 5, những nhà ôn hòa trở thành thiểu số. Ở Giai đoạn 6, họ sẽ không còn tồn tại.”
“Đấu tranh giai cấp”
“Ở Giai đoạn 5, đấu tranh giai cấp (class warfare) sẽ gia tăng. Bởi vì theo quy luật chung, trong những thời kỳ khó khăn và xung đột gia tăng, con người ngày càng có xu hướng nhìn nhận người khác một cách máy móc (stereotypical ways) như là thành viên của một hoặc nhiều giai cấp, và coi những giai cấp này là kẻ thù hoặc đồng minh. Ở Giai đoạn 5, điều này bắt đầu trở nên rõ rệt hơn. Đến Giai đoạn 6, nó sẽ trở nên nguy hiểm.”
“Một dấu hiệu kinh điển của Giai đoạn 5—và sẽ gia tăng ở Giai đoạn 6—là việc thần thánh hóa hoặc quỷ hóa (demonization) những người thuộc các giai cấp khác, thường dẫn tới việc xác định một hoặc nhiều giai cấp làm “con dê tế thần” (scapegoat), bị cho là nguyên nhân gốc rễ của mọi vấn đề. Điều này tạo ra động lực loại trừ, giam cầm hoặc hủy diệt họ—điều xảy ra ở Giai đoạn 6. Các dân tộc, chủng tộc và nhóm kinh tế - xã hội thường bị quỷ hóa. Ví dụ kinh điển và đáng sợ nhất đến từ cách Đức Quốc xã đối xử với người Do Thái, khi người Do Thái bị đổ lỗi và bị bức hại vì hầu như tất cả những vấn đề của nước Đức.
Các cộng đồng người Hoa thiểu số sống ở các quốc gia ngoài Trung Quốc cũng từng bị quỷ hóa và làm “con dê tế thần” trong những thời kỳ áp lực kinh tế và xã hội. Tại Anh, người Công giáo từng bị quỷ hóa và làm “con dê tế thần” trong nhiều giai đoạn căng thẳng, ví dụ như Cách mạng Vinh quang (Glorious Revolution) và Nội chiến Anh (English Civil War). Những nhà tư bản giàu có thường bị quỷ hóa, đặc biệt là những người bị coi là kiếm tiền bằng cách hy sinh lợi ích của người nghèo. Việc quỷ hóa và tìm “con dê tế thần” là một triệu chứng và vấn đề điển hình mà chúng ta phải theo dõi sát sao.”
“Sự suy mất chân lý trong không gian công cộng”
“Khi con người trở nên cực hóa, cảm tính và mang động cơ chính trị hơn, tình trạng không biết đâu là sự thật do truyền thông bóp méo và tuyên truyền (propaganda) sẽ gia tăng.”
“Ở Giai đoạn 5, những người tham gia đấu tranh thường hợp tác với giới truyền thông để khơi gợi cảm xúc của công chúng nhằm giành được sự ủng hộ và tiêu diệt đối thủ. Nói cách khác, những nhà báo cánh tả gia nhập phe cánh tả, còn những nhà báo cánh hữu gia nhập phe cánh hữu, cùng tham gia vào cuộc chiến bẩn thỉu này. Truyền thông trở nên điên cuồng như những kẻ hành pháp tư (vigilantes): Người ta thường bị tấn công trên truyền thông và thực chất bị xét xử và kết án—phá hủy cuộc sống của họ mà không có thẩm phán và bồi thẩm đoàn.
Một hành động chung của các nhà dân túy cánh tả (cộng sản) và cánh hữu (phát xít) trong những năm 1930 là kiểm soát truyền thông và thiết lập các “Bộ trưởng Tuyên truyền” (ministers of propaganda) để dẫn dắt dư luận. Các phương tiện truyền thông do họ tạo ra rõ ràng nhằm khiến công chúng chống lại những nhóm mà chính phủ coi là “kẻ thù của quốc gia”. Chính phủ Anh dân chủ đã thành lập “Bộ Thông tin” (Ministry of Information) trong Thế chiến I và Thế chiến II để phát tán tuyên truyền của chính phủ; các chủ báo lớn nếu hợp tác với chính phủ trong cuộc chiến tuyên truyền sẽ được chính phủ đề bạt, còn nếu không sẽ bị bôi nhọ và trừng phạt.
Các nhà cách mạng cũng thực hiện việc bóp méo sự thật tương tự trên các ấn phẩm khác nhau. Trong Cách mạng Pháp, các tờ báo do các nhà cách mạng điều hành đã cổ vũ tinh thần phản quân chủ và phản tôn giáo, nhưng khi các nhà cách mạng nắm quyền, họ đã đóng cửa các tờ báo bất đồng quan điểm trong thời kỳ “Chế độ Khủng bố” (Reign of Terror). Trong các thời kỳ khoảng cách giàu – nghèo lớn và chủ nghĩa dân túy lan rộng, những câu chuyện tấn công giới tinh hoa thường phổ biến và mang lại lợi nhuận, đặc biệt là những câu chuyện tấn công giới tinh hoa cánh tả trên các phương tiện truyền thông cánh hữu và tấn công giới tinh hoa cánh hữu trên các phương tiện truyền thông cánh tả. Lịch sử cho thấy sự gia tăng đáng kể các hoạt động này là vấn đề điển hình của Giai đoạn 5, và khi kết hợp với khả năng áp đặt các hình phạt khác, truyền thông sẽ trở thành một vũ khí mạnh mẽ.”
“Việc tuân thủ quy tắc suy giảm, cuộc chiến nguyên thủy bắt đầu”
“Khi một mục tiêu nào đó mà con người say mê theo đuổi trở nên quan trọng hơn hệ thống ra quyết định, thì hệ thống đó sẽ đứng trước nguy cơ.”
“Quy tắc và luật pháp chỉ có hiệu lực khi chúng cực kỳ rõ ràng và đa số người dân đủ coi trọng và sẵn sàng thỏa hiệp trong khuôn khổ đó để đảm bảo hệ thống vận hành tốt.”
“Nếu cả hai yếu tố trên đều không lý tưởng, thì hệ thống pháp luật sẽ trở nên mong manh. Nếu các bên cạnh tranh không sẵn sàng cố gắng duy trì lý trí và theo đuổi phúc lợi chung một cách văn minh—điều này đòi hỏi họ phải từ bỏ một số điều họ muốn và có thể giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh—để ra quyết định, thì sẽ xuất hiện một cuộc nội chiến nhằm kiểm tra sức mạnh tương đối của các bên. Ở giai đoạn này, chiến thắng bằng mọi giá là luật chơi, và thủ đoạn bẩn thỉu là điều bình thường. Về cuối Giai đoạn 5, lý trí bị cảm xúc thay thế.”
“Khi chiến thắng trở thành điều duy nhất quan trọng, thì việc chiến đấu phi đạo đức (unethical fighting) sẽ ngày càng mạnh mẽ theo cơ chế tự củng cố. Khi mỗi người đều có một mục tiêu để đấu tranh và không ai đạt được sự đồng thuận, thì hệ thống sẽ đứng bên bờ vực nội chiến hoặc cách mạng.”
“Điều này thường xảy ra theo một số cách: Về cuối Giai đoạn 5, hệ thống pháp luật và cảnh sát thường bị những người kiểm soát chúng sử dụng như một công cụ chính trị. Ngoài ra, các hệ thống cảnh sát tư nhân cũng hình thành—ví dụ như đám côn đồ đánh người và chiếm đoạt tài sản của họ, hay đội vệ sĩ bảo vệ người dân khỏi những sự việc như vậy. Ví dụ, Đảng Quốc xã đã thành lập một cánh bán quân sự (paramilitary wing) trước khi nắm quyền, và sau khi lên nắm quyền, cánh này trở thành lực lượng chính thức. Liên đoàn Phát xít Anh (British Union of Fascists) tồn tại ngắn ngủi trong những năm 1930 và Hội Tam Khoái (Ku Klux Klan) tại Hoa Kỳ thực chất cũng là những tổ chức bán quân sự. Những trường hợp như vậy là khá phổ biến, do đó hãy coi sự phát triển của chúng là dấu hiệu bước sang giai đoạn tiếp theo.”
“Về cuối Giai đoạn 5, các cuộc biểu tình ngày càng gia tăng và ngày càng trở nên bạo lực. Vì ranh giới giữa biểu tình lành mạnh và khởi đầu của cách mạng không phải lúc nào cũng rõ ràng, nên những người cầm quyền thường vật lộn trong việc cân nhắc giữa việc cho phép biểu tình và không để công chúng cảm thấy họ được tự do phản kháng hệ thống. Các nhà lãnh đạo phải xử lý khéo léo những tình huống này. Khi các cuộc biểu tình bắt đầu chuyển thành cách mạng, một tình thế nan giải kinh điển sẽ xuất hiện. Cả việc cho phép biểu tình tự do lẫn đàn áp biểu tình đều là những con đường đầy rủi ro đối với các nhà lãnh đạo, bởi vì bất kỳ lựa chọn nào cũng có thể khiến lực lượng cách mạng mạnh lên đủ để lật đổ hệ thống.
Không có hệ thống nào cho phép người dân lật đổ chính hệ thống đó—ở hầu hết các hệ thống, hành vi này bị coi là phản quốc (treason), thường bị xử tử. Dẫu vậy, công việc của các nhà cách mạng chính là lật đổ hệ thống, do đó chính phủ và các nhà cách mạng sẽ thử thách lẫn nhau để xác định giới hạn chịu đựng. Khi sự bất mãn rộng rãi âm ỉ và những người cầm quyền để mặc nó gia tăng, nó có thể sôi sục đến mức khi họ cố gắng dập tắt thì nó sẽ nổ tung. Xung đột ở cuối Giai đoạn 5 thường tích tụ đến cao trào, kích hoạt các trận chiến bạo lực, đánh dấu sự bước vào thời kỳ nội chiến chính thức được các nhà sử học xác nhận, mà tôi định nghĩa trong ‘Chu kỳ Lớn’ là Giai đoạn 6.”
“Việc có người chết trong các trận chiến là một dấu hiệu, gần như chắc chắn báo hiệu sự bước vào giai đoạn nội chiến bạo lực hơn tiếp theo, giai đoạn này sẽ kéo dài cho đến khi phân định rõ thắng bại.”
“Điều này dẫn tới nguyên tắc tiếp theo của tôi: Khi còn nghi ngờ, hãy nhanh chóng rời đi (When in doubt, get out)—nếu bạn không muốn dính líu vào nội chiến hoặc chiến tranh, bạn nên rời đi khi tình hình còn tốt. Điều này thường xảy ra vào cuối Giai đoạn 5. Lịch sử cho thấy, khi tình hình trở nên tồi tệ hơn, người dân muốn chuyển tới những nơi tình hình chưa tệ hoặc tốt hơn, và đối với những người muốn rời đi, cánh cửa thường sẽ đóng sầm lại. Đầu tư và tiền bạc cũng vậy, vì quốc gia sẽ áp dụng các biện pháp kiểm soát luồng vốn (capital controls) và các biện pháp khác trong giai đoạn này.”
“Sự chuyển dịch từ Giai đoạn 5 (tình hình tài chính cực kỳ tồi tệ và xung đột trong – ngoài gay gắt) sang Giai đoạn 6 (nội chiến) xảy ra khi hệ thống giải quyết bất đồng chuyển từ hoạt động sang không hoạt động. Nói cách khác, điều này xảy ra khi hệ thống sụp đổ đến mức không thể sửa chữa, con người dùng bạo lực đối với nhau, và giới lãnh đạo mất kiểm soát.”
“Khi một quốc gia đang ở Giai đoạn 5 (như Hoa Kỳ hiện nay), câu hỏi lớn nhất là hệ thống có thể uốn cong (bend) đến mức nào trước khi sụp đổ. Hệ thống dân chủ cho phép người dân làm gần như bất cứ điều gì họ quyết định, điều này tạo ra nhiều độ uốn cong hơn, bởi vì người dân có thể thay đổi giới lãnh đạo và chỉ có thể tự trách mình. Hệ thống dân chủ cũng được chứng minh là sẽ sụp đổ trong những thời kỳ xung đột lớn. Dân chủ đòi hỏi ra quyết định dựa trên sự đồng thuận và thỏa hiệp, điều này đòi hỏi nhiều người có quan điểm trái ngược nhau phải hợp tác tốt trong khuôn khổ hệ thống. Điều này đảm bảo các đảng phái có cơ sở cử tri quan trọng được đại diện, nhưng giống như mọi ủy ban lớn với những quan điểm khác biệt rộng rãi (thậm chí có thể ghét bỏ nhau), hệ thống ra quyết định này không hiệu quả.”
Hơn 2.000 năm trước, Plato trong tác phẩm Cộng hòa (The Republic) đã mô tả rất xuất sắc cách hệ thống dân chủ sụp đổ; nó có thể được dùng như một bình luận về những gì đang diễn ra hiện nay, nên đây không phải điều gì mới lạ.
“Rủi ro lớn nhất đối với dân chủ là các quyết định do chúng tạo ra quá phân mảnh và đối kháng, dẫn tới hiệu quả thấp, từ đó gây ra những kết quả tồi tệ, và cuối cùng kích hoạt một cuộc cách mạng do các nhà độc tài dân túy (populist autocrats) lãnh đạo—những người đại diện cho đa số dân chúng mong muốn có một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và có năng lực để kiểm soát sự hỗn loạn và khiến đất nước vận hành tốt vì họ.”
“Một điểm đáng chú ý khác là: Lịch sử cho thấy, trong những thời kỳ xung đột lớn, các nền dân chủ liên bang (federalist democracies, như Hoa Kỳ) thường xảy ra xung đột giữa các tiểu bang và chính phủ trung ương về quyền lực tương đối của mỗi bên. Đây là một dấu hiệu đáng theo dõi, hiện nay tại Hoa Kỳ chưa xuất hiện rõ rệt; một khi điều này xảy ra, sẽ đánh dấu sự tiến triển liên tục sang Giai đoạn 6.” Rõ ràng, đến năm 2026, điều này đang xảy ra và có thể gia tăng.
“Giai đoạn 5 là một ngã rẽ, một con đường có thể dẫn tới nội chiến hoặc cách mạng, còn con đường kia có thể dẫn tới sự chung sống hòa bình và lý tưởng nhất là thịnh vượng. Rõ ràng, con đường hòa bình và thịnh vượng là con đường lý tưởng, nhưng cũng là con đường khó thực hiện nhất. Con đường này đòi hỏi một nhà lãnh đạo mạnh mẽ, có khả năng truyền cảm hứng cho đa số người dân «thay vì chia rẽ họ», và thúc đẩy họ thực hiện những việc khó khăn nhằm khắc phục vấn đề, khiến quốc gia trở nên mạnh mẽ trở lại. Những nhà lãnh đạo như vậy—những «kẻ chuyên chế nhân từ» (benevolent despots) mà Plato từng nói đến—sẽ tập hợp hai phe đối lập lại với nhau để thực hiện những công việc khó khăn cần thiết nhằm tái cấu trúc trật tự sao cho nó vận hành một cách công bằng theo quan điểm của đa số (tức là vận hành theo cách hiệu quả và mang lại lợi ích cho đa số). Trong lịch sử, những trường hợp như vậy rất hiếm. Loại thứ hai là «chiến binh mạnh mẽ» (strong fighter), người dẫn dắt quốc gia đi qua địa ngục của nội chiến hoặc cách mạng.”
Giai đoạn 6: Thời kỳ nội chiến
“Nội chiến là điều không thể tránh khỏi, do đó thay vì giả định «điều này sẽ không xảy ra ở đây»—giả định mà người dân hầu hết các quốc gia đều có sau một thời gian dài không xảy ra nội chiến—chúng ta nên cảnh giác với chúng và tìm kiếm các dấu hiệu để xác định mức độ gần của chúng.”
“Dù có vô số ví dụ để hiểu cách chúng vận hành, tôi đã chọn 29 ví dụ mà tôi cho là quan trọng nhất, được liệt kê trong bảng dưới đây. Tôi chia nhóm ví dụ này thành hai loại: những ví dụ dẫn tới những thay đổi lớn trong hệ thống hoặc chế độ (big changes to the system/regime), và những ví dụ không dẫn tới thay đổi. Ví dụ, Nội chiến Hoa Kỳ là một cuộc nội chiến rất đẫm máu, nhưng nó không lật đổ hệ thống hoặc trật tự hiện hành, do đó nó nằm trong nhóm thứ hai ở cuối bảng; còn những ví dụ lật đổ hệ thống hoặc trật tự thì nằm ở đầu bảng. Tất nhiên, việc phân loại này không hoàn toàn chính xác, nhưng cũng như vậy, chúng ta sẽ không để sự thiếu chính xác cản trở việc nhìn thấy những điều mà nếu không buông lỏng yêu cầu chính xác thì chúng ta sẽ không thể thấy được. Phần lớn (dù không phải tất cả) các cuộc xung đột này đều diễn ra theo khuôn mẫu được mô tả trong phần này.”
Ghi chú ảnh: Danh sách các nghiên cứu điển hình về các cuộc xung đột lớn trong lịch sử dẫn tới sự thay đổi trật tự
“Một ví dụ kinh điển về nội chiến phá hủy hệ thống và buộc phải xây dựng một hệ thống mới là Cách mạng Nga năm 1917 và nội chiến sau đó. Điều này đã thiết lập trật tự nội bộ cộng sản, trật tự này cuối cùng bước vào Giai đoạn 5 vào cuối những năm 1980 và dẫn tới nỗ lực tiến hành cải cách cách mạng trong khuôn khổ hệ thống—tức là «cải tổ kinh tế» (perestroika, nghĩa là tái cấu trúc)—nhưng thất bại, sau đó là sự sụp đổ của trật tự Liên Xô vào năm 1991. Trật tự nội bộ cộng sản kéo dài 74 năm (từ năm 1917 đến năm 1991). Trật tự này bị thay thế bởi hệ thống hoặc trật tự mới đang cai trị Nga hiện nay, được xây dựng theo cách kinh điển mà tôi đã mô tả sớm hơn trong chương này khi giải thích Giai đoạn 1 và Giai đoạn 2, sau khi trật cũ sụp đổ.”
“Một ví dụ khác là Thời Minh Trị ở Nhật Bản, được hình thành nhờ một cuộc cách mạng kéo dài ba năm (1866–69). Cuộc cách mạng này xảy ra vì lúc đó Nhật Bản đang theo chính sách đóng cửa, không tiến bộ. Người Mỹ ép Nhật Bản mở cửa, thúc đẩy một nhóm cách mạng thách thức và đánh bại những người cai trị (do tướng quân quân phiệt lãnh đạo), dẫn tới việc lật đổ trật tự nội bộ Nhật Bản thời đó, được vận hành bởi bốn giai cấp—samurai, nông dân, thợ thủ công và thương nhân.
Trật tự Nhật Bản cũ do những người bảo thủ truyền thống điều hành là cực kỳ bảo thủ (ví dụ: di chuyển xã hội là bất hợp pháp), và nó bị thay thế bởi những nhà cách mạng tương đối tiến bộ, những người đã thay đổi mọi thứ bằng cách khôi phục quyền lực hiện đại của Thiên hoàng. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ này, do những yếu tố kinh điển là khoảng cách giàu – nghèo lớn và tình hình kinh tế tồi tệ, đã xảy ra rất nhiều tranh chấp lao – vốn, đình công và bạo loạn. Trong quá trình cải cách, giới lãnh đạo đã cung cấp giáo dục tiểu học phổ cập cho cả nam và nữ, áp dụng chủ nghĩa tư bản và mở cửa đất nước ra thế giới bên ngoài. Họ đã làm được điều này bằng cách sử dụng công nghệ mới, khiến họ trở nên rất cạnh tranh và giàu có.”
“Có rất nhiều trường hợp như vậy, một số quốc gia đã làm đúng để tạo ra những cải thiện cách mạng mang lại lợi ích, cũng như có rất nhiều nhà cách mạng đã làm sai, gây ra nỗi đau khủng khiếp cho nhân dân họ trong nhiều thập kỷ. Nhân tiện, nhờ các cải cách này, Nhật Bản tiếp tục hoàn thành các giai đoạn kinh điển của «Chu kỳ Lớn». Đất nước trở nên cực kỳ thành công và giàu có. Tuy nhiên, theo thời gian, nó trở nên sa đọa, mở rộng quá mức và tan rã, trải qua Đại Khủng hoảng và tham gia các cuộc chiến đắt đỏ, tất cả những điều này dẫn tới sự sụp đổ kinh điển. Trật tự Minh Trị và «Chu kỳ Lớn» kinh điển của nó kéo dài 76 năm, từ năm 1869 đến năm 1945.”
“Nội chiến và cách mạng là điều không thể tránh khỏi nhằm thay đổi hoàn toàn trật tự nội bộ.”
“Chúng bao gồm việc tái cấu trúc toàn diện (total restructurings) về của cải và quyền lực chính trị, trong đó bao gồm việc tái cấu trúc hoàn toàn nợ và quyền sở hữu tài chính, cũng như cải tổ lại cơ chế ra quyết sách chính trị. Những thay đổi này là kết quả tự nhiên do nhu cầu thay đổi lớn mà hệ thống hiện hành không thể đáp ứng được. Gần như mọi hệ thống đều sẽ gặp phải chúng. Đó là bởi vì gần như mọi hệ thống đều hy sinh lợi ích của một số giai cấp để mang lại lợi ích cho các giai cấp khác, và cuối cùng điều này trở nên không thể chịu đựng nổi, dẫn tới bạo lực để xác định con đường tiến lên phía trước.
Khi khoảng cách giàu – nghèo và giá trị trở nên rất lớn, và sau đó xuất hiện tình hình kinh tế tồi tệ, khiến hệ thống không còn vận hành hiệu quả đối với một bộ phận lớn người dân, thì người dân sẽ chiến đấu để thay đổi hệ thống. Những người chịu đau khổ về kinh tế nhiều nhất sẽ chiến đấu để giành lấy nhiều của cải và quyền lực hơn từ tay những người giàu có, có quyền lực và hưởng lợi từ hệ thống hiện hành. Các nhà cách mạng tự nhiên muốn thay đổi hệ thống một cách triệt để, do đó họ sẵn sàng phá vỡ những luật lệ mà những người cầm quyền yêu cầu họ tuân thủ. Những thay đổi cách mạng này thường xảy ra thông qua bạo lực nội chiến, mặc dù như đã nêu, chúng cũng có thể được thực hiện một cách hòa bình mà không lật đổ hệ thống.”
“Thời kỳ nội chiến thường rất tàn khốc. Thông thường, những cuộc chiến này ở giai đoạn đầu là những cuộc đấu tranh quyền lực mạnh mẽ và có trật tự, nhưng khi các trận chiến và cảm xúc ngày càng leo thang, và các bên sử dụng mọi thủ đoạn để giành chiến thắng, mức độ tàn khốc sẽ gia tăng một cách đáng kinh ngạc. Vì vậy, mức độ tàn khốc thực tế xảy ra trong nội chiến và cách mạng ở Giai đoạn 6 là điều mà ở Giai đoạn 5 sẽ bị coi là không thể xảy ra. Các nhà tinh hoa và những người ôn hòa thường phải chạy trốn, bị giam cầm hoặc bị giết. Việc đọc những câu chuyện về nội chiến và cách mạng, như Nội chiến Tây Ban Nha (Spanish Civil War), Nội chiến Trung Quốc (Chinese Civil War), Cách mạng Nga (Russian Revolution) và Cách mạng Pháp (French Revolution), khiến tôi rùng mình.”
“Chúng xảy ra như thế nào? Trước đây tôi đã mô tả các động lực của Giai đoạn 5 dẫn tới việc vượt qua ranh giới sang Giai đoạn 6. Ở giai đoạn này, tất cả những yếu tố này đều gia tăng mạnh mẽ. Tôi sẽ giải thích rõ hơn.”
“Nội chiến và cách mạng xảy ra như thế nào”
“Như đã mô tả trước đây, chu kỳ tạo ra của cải và khoảng cách giàu – nghèo dẫn tới việc một số ít người kiểm soát một tỷ lệ rất cao của cải, cuối cùng khiến đa số người nghèo nổi dậy lật đổ thiểu số giàu có thông qua nội chiến và cách mạng. Điều này đã xảy ra nhiều lần đến mức khó tưởng tượng.”
“Dù phần lớn các cuộc nội chiến và cách mạng điển hình là chuyển quyền lực từ cánh hữu sang cánh tả, nhưng cũng có nhiều cuộc chuyển của cải và quyền lực sang cánh hữu, thoát khỏi cánh tả. Tuy nhiên, số lượng các cuộc chuyển như vậy ít hơn và có những đặc điểm khác biệt. Chúng thường xảy ra khi trật tự hiện hành trượt vào tình trạng vô chính phủ bất lực (dysfunctional anarchies), và đa số người dân khao khát một nhà lãnh đạo mạnh mẽ, kỷ luật và năng suất.”
Những ví dụ về cách mạng chuyển từ trái sang phải bao gồm Đức, Tây Ban Nha, Nhật Bản và Ý trong những năm 1930; sự sụp đổ của Liên Xô vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990; cuộc đảo chính ở Argentina năm 1976 lật đổ Isabel Perón và thay thế bà bằng một ủy ban quân sự; và cuộc đảo chính dẫn tới Đệ nhị Đế chế Pháp năm 1851. Tất cả những trường hợp tôi nghiên cứu đều có nguyên nhân thành công hoặc thất bại giống nhau. Cũng như các cuộc cách mạng cánh tả, những trật tự nội bộ mới này thành công khi chúng tạo ra thành công kinh tế rộng khắp, và thất bại khi không làm được điều đó. Bởi vì sự thịnh vượng kinh tế rộng khắp là nguyên nhân lớn nhất dẫn tới thành công hoặc thất bại của chế độ mới, nên xu hướng dài hạn luôn là tổng của cải tăng lên và phân phối của cải mở rộng (tức là điều kiện kinh tế và sức khỏe của người dân bình thường được cải thiện). Khi một người đang ở trong một giai đoạn của Chu kỳ Lớn và trực tiếp trải nghiệm nó, tầm nhìn vĩ mô này rất dễ bị bỏ qua.”
“Thông thường, những người lãnh đạo nội chiến hoặc cách mạng từng là (và hiện vẫn là) những người có trình độ học vấn cao, xuất thân từ tầng lớp trung lưu. Ví dụ, ba nhà lãnh đạo cách mạng then chốt trong Cách mạng Pháp (French Revolution) là: Georges-Jacques Danton, một luật sư lớn lên trong một gia đình tư sản; Jean-Paul Marat, một bác sĩ; và Maximilien Robespierre, cũng là một luật sư.
Những nhà lãnh đạo Cách mạng Nga bao gồm Vladimir Lenin, xuất thân từ một gia đình trung lưu có học thức, cha ông là một quan chức cấp cao; và Leon Trotsky, xuất thân từ một gia đình nông dân giàu có. Những nhà lãnh đạo Cách mạng Cộng sản Trung Quốc bao gồm Mao Trạch Đông, xuất thân từ một gia đình nông dân giàu có; và Chu Ân Lai, xuất thân từ một gia đình sĩ phu. Fidel Castro xuất thân từ một gia đình chủ đồn điền rất giàu có và bắt đầu hoạt động chính trị khi học luật. Các sĩ quan Nhật Bản trong những năm 1930 đưa đất nước hướng tới chủ nghĩa dân túy cánh hữu và chủ nghĩa phát xít phần lớn xuất thân từ tầng lớp trung lưu. Như những ví dụ này cho thấy, các nhà lãnh đạo thường không xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, mà từ những tầng lớp có tri thức, có tầm nhìn và có khả năng tổ chức quần chúng.”
“Những nhà lãnh đạo này thường cũng có sức hấp dẫn cá nhân vượt trội (charismatic), có khả năng hợp tác tốt với người khác và xây dựng những tổ chức mạnh mẽ, vận hành hiệu quả, từ đó có đủ sức mạnh để khởi xướng cách mạng. Nếu bạn muốn tìm kiếm những nhà cách mạng trong tương lai, hãy chú ý tới những người có những phẩm chất này. Theo thời gian, họ thường sẽ chuyển từ những trí thức lý tưởng chủ nghĩa muốn làm cho hệ thống công bằng hơn thành những nhà cách mạng tàn nhẫn, sẵn sàng làm bất cứ điều gì để giành chiến thắng.”
“Dù khoảng cách giàu – nghèo khổng lồ trong thời kỳ khó khăn về kinh tế thường là nguyên nhân lớn nhất gây ra xung đột, nhưng luôn tồn tại những nguyên nhân khác gây ra xung đột, và những nguyên nhân này tích tụ lại, tạo thành một lực lượng phản đối lớn đối với giới lãnh đạo và thể chế. Thường trong các cuộc cách mạng, những nhà cách mạng có các yêu cầu khác nhau sẽ liên minh để thúc đẩy cải cách cách mạng; tuy nhiên, trong khi họ trông có vẻ đoàn kết trong thời kỳ cách mạng, sau khi giành chiến thắng, họ thường tranh đấu với nhau vì các vấn đề cụ thể và quyền lực.”
“Như đã nêu, trong giai đoạn nội chiến/cách mạng của chu kỳ, chính phủ đương nhiệm gần như luôn đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn lực tài chính, tín dụng và khả năng mua sắm. Sự thiếu hụt này tạo ra ham muốn cướp tiền từ tay những người giàu có, dẫn tới việc những người sở hữu tài sản chuyển tài sản của họ sang những nơi an toàn và các loại tài sản an toàn hơn, từ đó khiến chính phủ áp dụng các biện pháp kiểm soát luồng vốn (capital controls) nhằm ngăn chặn dòng chảy này—tức là hạn chế việc chuyển tiền sang các khu vực pháp lý khác (như các quốc gia khác), các loại tiền tệ khác hoặc các tài sản khó đánh thuế hơn và/hoặc kém năng suất hơn (như vàng).”
“Tệ hơn nữa, khi có bất ổn nội bộ, các kẻ thù bên ngoài càng có khả năng thách thức quốc gia đó. Bởi vì sự yếu kém do xung đột nội bộ gây ra khiến chiến tranh bên ngoài càng dễ xảy ra. Xung đột nội bộ chia rẽ quốc dân, làm kiệt quệ họ về mặt tài chính và làm phân tâm giới lãnh đạo, khiến họ không còn thời gian để quan tâm tới những vấn đề khác—tất cả những điều này tạo điều kiện cho các thế lực nước ngoài khai thác sự yếu kém. Đây là nguyên nhân chính khiến nội chiến và chiến tranh bên ngoài thường nối tiếp nhau.”
“Các nguyên nhân khác bao gồm: cảm xúc và tính khí trở nên nóng nảy; những nhà lãnh đạo dân túy mạnh mẽ lên nắm quyền trong thời điểm này vốn là những chiến binh bẩm sinh; khi có xung đột nội bộ, các nhà lãnh đạo nhận thấy việc khơi gợi mối đe dọa từ kẻ thù bên ngoài có thể tập hợp quốc gia quanh mình, do đó họ có xu hướng khuyến khích xung đột; ngoài ra, sự khan hiếm sẽ khiến người dân/quốc gia sẵn sàng chiến đấu để giành lấy những nguồn lực họ cần (bao gồm cả những nguồn lực do các quốc gia khác nắm giữ).”
“Gần như mọi cuộc nội chiến đều có sự tham gia của một số thế lực nước ngoài nhằm ảnh hưởng tới kết quả vì lợi ích riêng của họ.”
“Việc bắt đầu nội chiến và cách mạng không rõ ràng khi chúng xảy ra, dù khi chúng ta chìm sâu vào đó, chúng lại rất hiển nhiên.”
“Dù các nhà sử học đặt ra những ngày tháng cụ thể cho việc bắt đầu và kết thúc nội chiến, nhưng những ngày tháng này là do con người quy định. Thực tế là, gần như không ai lúc đó biết nội chiến đã bắt đầu hay đã kết thúc, nhưng họ đều biết mình đang ở giữa nó. Ví dụ, nhiều nhà sử học lấy ngày 14 tháng 7 năm 1789 làm ngày bắt đầu Cách mạng Pháp, bởi vì vào ngày đó đám đông đã tấn công pháo đài và nhà tù Bastille. Nhưng lúc đó không ai nghĩ đó là ngày bắt đầu Cách mạng Pháp, cũng không biết cuộc nội chiến và cách mạng này sẽ trở nên khủng khiếp và tàn bạo đến mức nào. Mặc dù con người có thể không biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng một số dấu hiệu mờ nhạt có thể giúp xác định vị trí hiện tại của mình trong chu kỳ, nhìn rõ hướng di chuyển và hình dung được hình dáng của giai đoạn tiếp theo.”
“Nội chiến cực kỳ tàn khốc, bởi vì chúng là những trận chiến sinh tử. Mỗi người đều là một người cực đoan, bởi vì mỗi người đều bị buộc phải chọn phe và chiến đấu—hơn nữa, trong chiến đấu cận chiến, những người ôn hòa luôn là kẻ thua cuộc.”
“Còn về loại nhà lãnh đạo phù hợp nhất cho nội chiến và cách mạng, đó là những «tướng quân truyền cảm hứng» (inspirational generals)—những người đủ mạnh để tập hợp sự ủng hộ và giành chiến thắng trong mọi trận chiến bắt buộc phải thắng. Bởi vì chiến đấu là tàn khốc, họ phải đủ tàn nhẫn để sử dụng mọi thủ đoạn nhằm giành chiến thắng.”
“Thời kỳ nội chiến được các nhà sử học đánh dấu thường kéo dài vài năm và quyết định thắng bại chính thức, thường được thể hiện qua việc phe nào chiếm được trụ sở chính phủ tại thủ đô. Nhưng cũng như việc bắt đầu, việc kết thúc nội chiến/cách mạng cũng không rõ ràng như những gì các nhà sử học truyền đạt. Sau khi nội chiến chính thức kết thúc, các cuộc chiến nhằm củng cố quyền lực có thể kéo dài trong thời gian rất dài.”
“Dù nội chiến và cách mạng thường vô cùng đau đớn, nhưng chúng thường dẫn tới việc tái cấu trúc, và nếu được xử lý đúng cách, có thể đặt nền móng cho những kết quả tốt hơn trong tương lai. Tương lai sau nội chiến/cách mạng phụ thuộc vào cách xử lý các bước tiếp theo.”
Hiện trạng: Minneapolis và Hoa Kỳ trên ngòi nổ
Hãy tập trung vào những sự kiện lớn trong vài ngày qua: vụ giết hại người biểu tình thứ hai phản đối Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan (ICE) tại Minneapolis. Hai dấu hiệu kinh điển về việc chuyển từ Giai đoạn 5 sang Giai đoạn 6 dường như đang xảy ra:
- “Việc có người chết trong các trận chiến là một dấu hiệu, gần như chắc chắn báo hiệu sự bước vào giai đoạn nội chiến bạo lực hơn tiếp theo, giai đoạn này sẽ kéo dài cho đến khi phân định rõ thắng bại.”
- “Lịch sử cho thấy, trong những thời kỳ xung đột lớn, các nền dân chủ liên bang (như Hoa Kỳ) thường xảy ra xung đột giữa các tiểu bang và chính phủ trung ương về quyền lực tương đối của mỗi bên.”
Hoa Kỳ hiện nay là một quả bom chờ nổ. Theo cuộc khảo sát mới nhất của PBS News/NPR/Marist, gần một phần ba (30%) người Mỹ cho biết, để đưa đất nước trở lại đúng hướng, người dân có thể phải resort đến bạo lực. Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center, từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2025) phát hiện 85% người trưởng thành ở Hoa Kỳ thừa nhận bạo lực chính trị có động cơ ở Mỹ đang gia tăng.
Một phân tích của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cho thấy, từ năm 2016 đến năm 2024, đã xảy ra 21 vụ tấn công hoặc âm mưu chính trị theo phe phái, trong khi trong hơn 25 năm trước đó (trước năm 2016), chỉ có hai vụ như vậy. Điều này có nghĩa là trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, số vụ âm mưu/tấn công có động cơ chính trị đã tăng khoảng mười lần. Số lượng súng ở Hoa Kỳ nhiều hơn số dân, và nhiều người mang tư tưởng bạo lực.
Không thể nghi ngờ rằng xung đột giữa chính phủ trung ương và tiểu bang Minnesota (cũng như các chính phủ tiểu bang khác) đang rất nghiêm trọng và có vẻ sẽ còn trầm trọng hơn. Toàn thế giới đã chứng kiến vụ giết hại hai người phản đối kế hoạch ICE của Tổng thống Trump tại Minneapolis, và giờ đây đang theo dõi xem bên nào sẽ nhượng bộ. Nhiều người đang chờ đợi xem Tổng thống Trump sẽ tiếp tục chiến đấu—tôi cho rằng điều này sẽ làm tăng nguy cơ đẩy đất nước tới bờ vực nội chiến rõ ràng hơn; hay ông sẽ cố gắng kéo chúng ta lùi lại từ bờ vực bằng cách kêu gọi hòa bình, cam kết và chứng minh rằng hệ thống tư pháp sẽ xử lý thích đáng vụ nổ súng, đồng thời thu hẹp hoạt động của ICE. (Trong cuộc phỏng vấn với Tạp chí Phố Wall, ông cho biết chính phủ sẽ điều tra vụ giết người này và tuyên bố ICE sẽ không ở lại Minneapolis mãi mãi.)
Dù lựa chọn của ông sẽ ảnh hưởng lớn tới những diễn biến tiếp theo (bao gồm cả khả năng châm ngòi cho quả bom), nhưng điều quan trọng là phải nhìn nhận mọi việc đang diễn ra trong bối cảnh của tất cả những lực lượng và sự kiện đang thúc đẩy «Chu kỳ Lớn». Dù kết quả của vụ việc tại Minneapolis ra sao, thì đây đều là những lực lượng mạnh mẽ đang tiến triển và quyết định cách «Chu kỳ Lớn» sẽ phát triển.
Kết luận (trích từ Nguyên tắc Ứng phó với Trật tự Thế giới Đang Thay đổi)
“Nghiên cứu lịch sử của tôi cho thấy, ngoài quá trình tiến hóa (evolution), không có điều gì là vĩnh cửu. Trong tiến trình tiến hóa, tồn tại những chu kỳ tiến và lùi như thủy triều, những chu kỳ này rất khó thay đổi hoặc chống lại. Để ứng phó thích hợp với những thay đổi này, chúng ta phải hiểu rõ mình đang ở giai đoạn nào của chu kỳ và nắm vững những nguyên tắc vĩnh cửu và phổ quát để đối phó với nó.
Khi điều kiện thay đổi, cách ứng phó tối ưu cũng sẽ thay đổi theo—nói cách khác, điều gì là tốt nhất phụ thuộc vào hoàn cảnh, mà hoàn cảnh thì luôn thay đổi theo cách chúng ta vừa thấy. Do đó, việc cứng nhắc tin rằng bất kỳ hệ thống kinh tế hay chính trị nào cũng luôn là tốt nhất là một sai lầm. Bởi vì chắc chắn sẽ có những lúc hệ thống đó không phù hợp với hoàn cảnh hiện tại; nếu một xã hội không điều chỉnh, nó sẽ tiêu vong.
Đây là lý do vì sao việc liên tục cải cách hệ thống để thích nghi với hoàn cảnh là lựa chọn tốt nhất. Tiêu chuẩn kiểm tra bất kỳ hệ thống nào rất đơn giản: đó là xem hệ thống đó vận hành hiệu quả như thế nào trong việc cung cấp những điều mà đa số người dân mong muốn—điều này có thể được đo lường một cách khách quan, và chúng ta đang làm và sẽ tiếp tục làm điều này.
Tuy nhiên, bài học rõ ràng và mạnh mẽ nhất mà lịch sử mang lại cho chúng ta là: Việc tạo ra các mối quan hệ đôi bên cùng có lợi hiệu quả thông qua sự hợp tác thuần thục—cùng làm to chiếc bánh và chia đều—để đa số người dân cảm thấy hạnh phúc, có giá trị cao hơn nhiều so với việc tiến hành nội chiến để giành của cải và quyền lực, dẫn tới việc một bên nô dịch bên kia, và đau đớn hơn rất nhiều.”
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News











