
Nhà sáng lập Quỹ Bridgewater Dalio: Hiểu rõ tác động và cơ chế vận hành của thuế quan
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Nhà sáng lập Quỹ Bridgewater Dalio: Hiểu rõ tác động và cơ chế vận hành của thuế quan
Nếu phản hồi đối với thuế quan là các mức thuế trả đũa tương xứng, kết quả sẽ là tình trạng đình trệ lạm phát trên diện rộng hơn.
Tác giả: Ray Dalio
Biên dịch: TechFlow
Thuế quan là một loại thuế, có các tác dụng bao gồm:
1) Tăng thu cho quốc gia áp dụng thuế quan, khoản thuế này do nhà sản xuất nước ngoài và người tiêu dùng trong nước cùng gánh chịu (tỷ lệ cụ thể phụ thuộc vào độ co giãn tương đối của hai bên), khiến thuế quan trở thành một hình thức thuế hấp dẫn;
2) Làm giảm hiệu quả sản xuất toàn cầu;
3) Gây ra hiệu ứng đình trệ lạm phát (stagflation) trên phạm vi toàn cầu, mang tính giảm phát rõ rệt hơn đối với quốc gia sản xuất bị đánh thuế, trong khi lại mang tính lạm phát mạnh hơn đối với quốc gia nhập khẩu áp dụng thuế quan;
4) Bảo vệ doanh nghiệp trong nước tại thị trường nội địa khỏi cạnh tranh từ nước ngoài, nhưng đồng thời cũng làm suy giảm hiệu quả hoạt động của họ; nếu chính sách tiền tệ và tài khóa duy trì tổng cầu trong nước, những doanh nghiệp này sẽ có nhiều khả năng tồn tại hơn;
5) Trong thời kỳ xung đột giữa các cường quốc, thuế quan là cần thiết để đảm bảo năng lực sản xuất nội địa;
6) Giảm sự mất cân đối ở tài khoản vãng lai (current account) và tài khoản vốn (capital account), nói cách khác là giảm sự phụ thuộc vào sản xuất và vốn nước ngoài – điều đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xung đột địa chính trị hoặc chiến tranh toàn cầu.
Trên đây là những tác động trực tiếp của thuế quan (tác động cấp độ 1).
Những ảnh hưởng tiếp theo phụ thuộc vào các yếu tố sau:
-
Cách quốc gia/vùng lãnh thổ bị đánh thuế quan phản ứng;
-
Sự thay đổi tỷ giá hối đoái;
-
Các ngân hàng trung ương điều chỉnh chính sách tiền tệ và lãi suất như thế nào;
-
Các chính phủ điều chỉnh chính sách tài khóa ra sao để ứng phó với những áp lực này.
Những yếu tố này tạo thành các tác động gián tiếp của thuế quan (tác động cấp độ 2).
Cụ thể hơn, về những ảnh hưởng này:
1) Nếu biện pháp đáp trả là áp đặt thuế quan đối kháng tương tự, kết quả sẽ là hiện tượng đình trệ lạm phát lan rộng hơn;
2) Nếu chính sách tiền tệ nới lỏng, lãi suất thực tế giảm và đồng tiền sẽ mất giá tại các quốc gia chịu áp lực giảm phát mạnh nhất (đây là phản ứng thông thường của ngân hàng trung ương); hoặc nếu chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất thực tế tăng và đồng tiền lên giá tại các quốc gia chịu áp lực lạm phát mạnh nhất (cũng là phản ứng thông thường khác của ngân hàng trung ương);
3) Nếu chính sách tài khóa được nới lỏng tại các khu vực chịu áp lực giảm phát, hoặc siết chặt tại các khu vực lạm phát cao, những điều chỉnh này có thể phần nào trung hòa tác động giảm phát hoặc lạm phát.
Do đó, chính sách thuế quan liên quan đến nhiều yếu tố động, đòi hỏi phải cân nhắc kỹ lưỡng trên nhiều phương diện để đánh giá tác động của mức thuế quan lớn lên thị trường. Những ảnh hưởng này vượt xa sáu tác động cấp độ 1 mà tôi đã nêu, đồng thời chịu ảnh hưởng đáng kể từ các tác động cấp độ 2.
Tuy nhiên, bối cảnh hiện tại và xu hướng tương lai có thể được xác định rõ như sau:
1) Sự mất cân đối trong sản xuất, thương mại và vốn (đặc biệt là vấn đề nợ) phải được giải quyết bằng một cách nào đó, bởi vì từ góc độ tiền tệ, kinh tế và địa chính trị, những mất cân đối này đã trở nên nguy hiểm và không bền vững (do đó, trật tự tiền tệ, kinh tế và địa chính trị hiện tại nhất thiết phải thay đổi);
2) Những thay đổi này có thể đi kèm các điều chỉnh đột ngột và phi truyền thống (tương tự như tình huống tôi mô tả trong cuốn sách mới của mình "Các Quốc Gia Vỡ Nợ Ra Sao: Chu Kỳ Lớn" (How Countries Go Broke: The Big Cycle));
3) Ảnh hưởng dài hạn về tiền tệ, chính trị và địa chính trị sẽ chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố sau: mức độ tin tưởng vào nợ và thị trường vốn như nơi lưu trữ an toàn của cải, năng suất của từng quốc gia, và hệ thống chính trị có biến quốc gia đó thành nơi phù hợp để sinh sống, làm việc và đầu tư hay không.
Bên cạnh đó, hiện nay đang có những cuộc thảo luận rất sôi nổi về các vấn đề sau:
1) Việc đồng đô la Mỹ làm đồng tiền dự trữ toàn cầu là lợi nhiều hơn hại hay ngược lại;
2) Liệu đồng đô la mạnh có phải là điều tốt hay không.
Rõ ràng, việc đồng đô la làm đồng tiền dự trữ là một điều tốt (vì điều này làm tăng nhu cầu đối với nợ và các loại hình vốn khác của Mỹ, nếu không có đặc quyền này, Mỹ sẽ không thể quá độ vay mượn). Tuy nhiên, do hiện tượng này do thị trường thúc đẩy, nó tất yếu dẫn đến việc lạm dụng đặc quyền, vay mượn quá mức và các vấn đề nợ nần — đúng như tình thế chúng ta đang đối mặt hiện nay (tức là phải xử lý việc giảm bớt bất khả tránh các mất cân đối hàng hóa, dịch vụ và vốn, sử dụng các biện pháp phi truyền thống để giảm gánh nặng nợ, và giảm sự phụ thuộc vào nước ngoài trong các lĩnh vực này, đặc biệt là do ảnh hưởng của môi trường địa chính trị).
Cụ thể hơn, có ý kiến cho rằng đồng nhân dân tệ nên được nâng giá, điều này có thể đạt được sự đồng thuận trong một thỏa thuận thương mại và vốn nào đó giữa Trung-Mỹ, lý tưởng nhất là tại cuộc gặp giữa Trump và Tập Cận Bình. Những điều chỉnh này cùng các điều chỉnh phi thị trường, phi kinh tế khác sẽ tạo ra những tác động riêng biệt và đầy thách thức đối với các quốc gia liên quan, đồng thời kích hoạt một số tác động cấp độ 2 mà tôi đã nêu để làm dịu bớt các ảnh hưởng đó.
Tôi sẽ theo dõi sát diễn biến trong thời gian tới và cập nhật thường xuyên quan điểm của mình về các tác động cấp độ 1 và cấp độ 2.
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News














