
Phân tích sơ lược các điểm chính của Aave V4: «Lớp thanh khoản thống nhất»
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Phân tích sơ lược các điểm chính của Aave V4: «Lớp thanh khoản thống nhất»
Dự kiến bắt đầu thiết kế nguyên mẫu từ quý 4, hoàn thành mã hóa vào quý 2 năm sau.
Tác giả: Madiha, nhà phát triển Backlash
Biên dịch: Azuma, Odaily Star Daily
Lời biên tập: Lão tướng DeFi Aave đang tích cực thúc đẩy nâng cấp giao thức lên phiên bản V4. Theo những thông tin đã tiết lộ trước đó, nội dung nâng cấp chính của Aave V4 là xây dựng một "lớp thanh khoản thống nhất" (Unified Liquidity Layer - ULL), nhằm gom thanh khoản từ nhiều mạng lưới khác nhau vào trong một giao thức duy nhất.
Về mặt thời gian, The Defiant trước đó đưa tin rằng kế hoạch của Aave là bắt đầu thiết kế mẫu thử nghiệm giao thức V4 vào quý IV và dự kiến hoàn tất mã nguồn vào quý II năm 2025. Sáng nay, Stan Kulechov, người sáng lập Aave, lại tiếp tục xác nhận – thậm chí rút ngắn hơn nữa dự kiến này – khi ông tiết lộ rằng sau phiên bản V4, Aave sẽ ra mắt thêm Aave Network, đồng thời trả lời thắc mắc của cộng đồng về thời điểm thực hiện: “Tôi chắc chắn điều này sẽ xảy ra vào năm tới, thậm chí còn sớm hơn.”
Dưới đây là phần phân tích tổng quan về nâng cấp cốt lõi "lớp thanh khoản thống nhất" của Aave V4 do Madiha, nhà phát triển Backlash thực hiện, được Odaily Star Daily biên dịch.

Nâng cấp chính của Aave V4 là "lớp thanh khoản thống nhất", xét về bản chất, chức năng này là sự mở rộng từ khái niệm Portal trong phiên bản Aave V3.
Portal vốn là một tính năng thuộc Aave V3, được ứng dụng trong lĩnh vực liên chuỗi, tuy nhiên phần lớn người dùng chưa từng tìm hiểu hoặc sử dụng chức năng này. Tiếp theo, hãy cùng lần theo từng bước để xem Portal đã tiến hóa thành "lớp thanh khoản thống nhất" như thế nào.
Ban đầu, Portal được thiết kế nhằm thực hiện việc cầu nối tài sản cho vay trên các blockchain khác nhau mà Aave đã hỗ trợ. Chức năng này cho phép các giao thức cầu nối được phê duyệt (whitelisted) hủy bỏ aToken trên chuỗi nguồn và đúc aToken tức thì trên chuỗi đích.

Ví dụ minh họa: Alice có 10 aETH trên Ethereum và muốn chuyển 10 aETH này sang Arbitrum. Khi Alice gửi giao dịch đến một giao thức cầu nối được phê duyệt, giao thức này sẽ thực hiện các bước sau:

-
Trên chuỗi đích (Arbitrum trong ví dụ này), một hợp đồng trung gian sẽ đúc 10 aETH "chưa có tài sản cơ sở" (thực tế vẫn có, nhưng tài sản cơ sở chưa được chuyển đến chuỗi đích).
-
Hợp đồng trung gian sau đó chuyển 10 aETH này cho Alice trên Arbitrum.
-
Xử lý hàng loạt giao dịch cầu nối và di chuyển 10 ETH làm tài sản cơ sở sang Arbitrum.
-
Khi tiền đã khả dụng trên Arbitrum, hợp đồng cầu nối được phê duyệt trên Arbitrum sẽ cung cấp 10 ETH vào nhóm thanh khoản Aave để đảm bảo cho 10 aETH đã đúc trước đó.
Trong ví dụ trên, Aave có thể chuyển 10 aETH của Alice từ Ethereum sang Arbitrum. Tuy nhiên ngoài đời thực, chức năng này có thể xử lý nhiều trường hợp khác, chẳng hạn như chuyển tài sản chung giữa các chuỗi, hoặc cho phép Alice rút trực tiếp 10 ETH trên mạng Arbitrum.
Chức năng Portal giúp những người dùng thường xuyên tìm kiếm lãi suất cao hơn giữa các blockchain có thể dễ dàng thực hiện thao tác liên chuỗi. Ví dụ, tại một thời điểm nào đó, nhóm thanh khoản trên Optimism tương đối nhỏ nhưng lãi suất gửi lại cao hơn nhóm trên Ethereum. Người dùng có thể sử dụng Portal để di chuyển khoản gửi của mình từ Ethereum sang Optimism, nhờ đó tận hưởng mức lãi suất gửi cao hơn.
Tuy nhiên, mặc dù Portal có thể biến Aave V3 thành một giao thức DeFi vượt qua rào cản thanh khoản giữa các chuỗi, hoạt động của nó lại phụ thuộc vào một số giả định về niềm tin (trust assumptions). Nói đơn giản, người dùng cần gửi giao dịch cầu nối đến một số giao thức cầu nối được phê duyệt (ví dụ như Connext), chứ không phải đến giao thức cốt lõi Aave V3. Một lần nữa nhấn mạnh, người dùng cuối hiện tại không thể sử dụng Portal chỉ bằng giao thức cốt lõi của riêng Aave.
Điều này dẫn đến khái niệm "lớp thanh khoản thống nhất" – cũng là thay đổi kiến trúc quan trọng nhất khi chuyển từ Aave V3 sang V4. Như hình dưới đây, "lớp thanh khoản thống nhất" sẽ áp dụng thiết kế mô-đun để quản lý thống nhất "giới hạn cung cấp/nợ", "lãi suất", "tài sản" và "khuyến khích", đồng thời cho phép các mô-đun khác truy cập thanh khoản từ đây.

Bằng cách tích hợp quản lý thanh khoản, "lớp thanh khoản thống nhất" sẽ cho phép Aave sử dụng hiệu quả hơn tất cả tài sản sẵn có, nghĩa là thanh khoản có thể được phân bổ động đến nơi cần nhất, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn toàn hệ thống.
Hơn nữa, thiết kế mô-đun cũng đồng nghĩa với việc Aave có thể thêm các mô-đun hoặc chức năng mới (như pool tách biệt, mô-đun RWA hay CDP) mà vẫn duy trì hoạt động ổn định của toàn bộ hệ thống, hoặc dễ dàng giới thiệu mô-đun mới hoặc loại bỏ mô-đun cũ mà không cần di dời thanh khoản.
Trong Aave V3, Portal cho phép tài sản di chuyển giữa các mạng mà Aave hỗ trợ, từ đó kích hoạt chức năng thanh khoản liên chuỗi. "Lớp thanh khoản thống nhất" lại tạo ra một hạ tầng linh hoạt và trừu tượng hơn để bao gồm chức năng này, đồng thời hạ tầng này còn có thể hỗ trợ nhiều nhu cầu cung cấp thanh khoản đa dạng hơn.
Trong khuôn khổ "lớp thanh khoản thống nhất", Aave sẽ tận dụng giao thức tương tác liên chuỗi CCIP của Chainlink để xây dựng "lớp thanh khoản liên chuỗi" (Cross-Chain Liquidity Layer - CCLL), cho phép người đi vay truy cập tức thì vào toàn bộ thanh khoản trên mọi mạng được Aave hỗ trợ. Cải tiến này hứa hẹn sẽ phát triển Portal thành một giao thức thanh khoản liên chuỗi đầy đủ, tôi rất mong chờ được thấy Aave V4 sẽ tận dụng hạ tầng mới mẻ này để tìm ra những nguồn thu tiềm năng mới.
Trên đây là toàn bộ nội dung phân tích của Madiha về "lớp thanh khoản thống nhất".
Đáng chú ý, ngoài "lớp thanh khoản thống nhất", Aave dự kiến sẽ giới thiệu thêm các cải tiến khác trong bản nâng cấp V4 như cơ chế lãi suất động, cơ chế phí thanh khoản, tài khoản thông minh, cấu hình tham số rủi ro động, mở rộng sang hệ sinh thái phi EVM, đồng thời lấy stablecoin GHO và chính giao thức cho vay Aave làm trung tâm để xây dựng Aave Network.
Là một lão tướng trong lĩnh vực DeFi, Aave trong ba năm qua luôn chiếm khoảng 50% thị phần trên thị trường cho vay DeFi. Nếu tính cả các dự án fork, khoảng 75% giá trị bị khóa trong thị trường cho vay DeFi đều nằm ở các dự án sử dụng kho mã nguồn của Aave.
Đối với phiên bản V4, Aave đặt kỳ vọng rất lớn trong đề xuất liên quan: “Các cải tiến này nhằm thúc đẩy đáng kể việc áp dụng thêm trong hệ sinh thái Aave, đồng thời giúp DeFi tiếp tục mở rộng, từ đó phục vụ tiềm năng cho 1 tỷ người dùng mới.”
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News













