
Toàn chuỗi Layer0 mới là tương lai? Giải mã "Chiếc cốc thánh Web3 mới" zkOmnichain
Tuyển chọn TechFlowTuyển chọn TechFlow

Toàn chuỗi Layer0 mới là tương lai? Giải mã "Chiếc cốc thánh Web3 mới" zkOmnichain
Quá khứ là chuỗi đơn, hiện tại là đa chuỗi, tương lai mới thực sự là Layer0 toàn diện?
Tác giả: Khang Thủy Việt, người sáng lập Fox Tech và Way Network, Chủ tịch tập đoàn Đầu tư Đan Dương
Lời mở đầu
zkRollup thuộc lĩnh vực Layer2, nhằm giải quyết tình trạng tắc nghẽn trên Ethereum; còn zkOmnichain thuộc lĩnh vực Layer0, hướng tới việc xây dựng toàn bộ mạng Web3.
Tuy nhiên, do tiếng vang quá lớn từ hệ sinh thái Ethereum, sự chú ý của mọi người đều đổ dồn vào zkRollup mà bỏ qua zkOmnichain. Giao thức tương tác đa chuỗi dựa trên bằng chứng kiến thức không (zero-knowledge proof) – zkOmnichain – chính là Thánh Chén Thánh của blockchain và Web3, mang tầm quan trọng phi thường.
Nếu thị phần của Ethereum có thể duy trì ổn định trên 70% trong nhiều năm, thì khái niệm Omnichain sẽ trở thành vô nghĩa. Tuy nhiên, điều này là không thể. Thị phần mới nhất của Ethereum hiện tại là 59,24%. Dù cơ sở hạ tầng lớp chuỗi Web3 sẽ tiếp tục duy trì mô hình “một siêu cường, nhiều cường quốc” trong thời gian dài, đồng thời bản thân Ethereum cũng liên tục nâng cấp công nghệ, nhưng cùng với việc các Layer2 như zkRollup, opRollup hấp thụ lượng lớn lưu lượng từ Layer1, sự tăng trưởng mạnh mẽ của các đối thủ như BNB Chain, Polygon, sự trỗi dậy nhanh chóng của các blockchain mới như Atpos, Sui, cùng với sự lan tỏa rộng khắp của hệ sinh thái Cosmos, ta sẽ thấy thị phần của Ethereum giảm xuống dưới 50% trong suốt thời gian dài sau năm 2025.

Hình 1: Tỷ lệ TVL của Ethereum từ tháng 8/2020 đến tháng 2/2023, nguồn dữ liệu: https://defillama.com
Các con đường để Application đạt được bao phủ toàn chuỗi
Sau mùa hè DeFi 2020, gần như tất cả các ứng dụng đều thực hiện trạng thái đa chuỗi bằng cách triển khai riêng lẻ thô sơ trên từng chuỗi. Cách làm đơn giản này không chỉ gây khó khăn đáng kể cho nhà phát triển trong triển khai và vận hành, mà còn dẫn đến hai vấn đề nghiêm trọng: thanh khoản bị phân mảnh nghiêm trọng trên các chuỗi khác nhau, và chênh lệch giá rất lớn giữa các Token giống nhau trên các chuỗi khác nhau.
Ngoài phương pháp nguyên thủy nói trên, có ba con đường chính để Application đạt được bao phủ toàn chuỗi:
-
Con đường thứ nhất, cũng là con đường phổ biến của thế hệ sản phẩm跨链 đầu tiên, tức là Application thực hiện tương tác đa chuỗi thông qua một giao thức đồng thuận trung gian kết nối chuỗi nguồn và chuỗi đích. Thông thường Application không triển khai trên chuỗi trung gian này. Các đại diện tiêu biểu gồm hệ sinh thái tự trị Cosmos, Polkadot, cùng Multichain, Celer, Wormhole, Thorchain, Axelar;
-
Con đường thứ hai là sử dụng cơ chế Optimistic để hoàn thành tương tác với các chuỗi khác. Các đại diện điển hình theo hướng này bao gồm Synapse, Nomad, Hyperlane sử dụng Optimistic Verification & Fraud Proofs, và LayerZero, Across sử dụng Optimistic Oracle & None Proofs;
-
Con đường thứ ba là Application sử dụng giao thức tương tác toàn chuỗi dựa trên bằng chứng kiến thức không – zkOmnichain – để tương tác với các chuỗi khác, các đại diện tiêu biểu bao gồm Electron, Polymer, Succinct xuất thân từ hệ sinh thái Cosmos, Overearlity chuyên về NFT cross-chain, và Way Network hướng tới cung cấp giải pháp tổng quát.

Hình 2: So sánh các thế hệ giao thức跨链
- Cuối cùng còn một con đường nữa là triển khai Application lên một blockchain hợp đồng thông minh hoàn toàn mới, rồi thông qua chuỗi này để tương tác với các chuỗi khác, đại diện tiêu biểu là ZetaChain và Map Protocol. Đây là con đường nặng nề cả về phát triển lẫn vận hành. Trước hết phải giải quyết bài toán căn chỉnh sổ cái khi các chuỗi EVM vượt qua các chuỗi dị cấu trúc – vấn đề mà thế hệ sản phẩm đầu tiên cũng gặp phải; thứ hai, vì chức năng trùng lặp với các blockchain hợp đồng thông minh hiện có nên chắc chắn sẽ phải cạnh tranh trực tiếp để giành lấy tài nguyên Application. Nhưng dù đi theo con đường nào, mục tiêu cuối cùng cũng giống nhau: chuyển đổi ứng dụng đơn chuỗi thành ứng dụng toàn chuỗi.
Mô hình chuỗi trung gian (giao thức đồng thuận) thế hệ đầu tiên: nếu số lượng nút xác thực nhiều thì chậm, ít thì không an toàn, lại tốn kém chi phí vận hành nút, khó có thể đảm nhiệm vai trò xương sống cho mạng Web3. Vì vậy, chúng ta buộc phải dời sự chú ý sang các mô hình không dùng chuỗi trung gian, tập trung đánh giá hai mô hình sản phẩm thế hệ hai opOmnichain và thế hệ ba zkOmnichain.

Hình 3: So sánh giao thức tương tác toàn chuỗi OP và ZK
Lĩnh vực giao thức tương tác toàn chuỗi Layer0 giống như lĩnh vực giải pháp mở rộng cho Ethereum Layer2, đã hình thành hai loại giải pháp lớn: OP và ZK.
Chúng ta hãy xem xét trước tiên mô hình phụ Optimistic Oracle trong giải pháp OP:
- Trong mô hình này, LayerZero sử dụng oracle Chainlink, trong khi bản thân dự án Chainlink cũng có giao thức tương tác đa chuỗi riêng (Cross-Chain Interoperability Protocol - CCIP), tạo ra mối quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh giữa hai dự án. Across sử dụng UMA làm oracle, và UMA với Across là hai dự án thuộc cùng một nhóm phát triển.
Loại giải pháp này không thể đạt được tính phi tập trung thực sự và không có bảo mật chia sẻ (Shared Security). Shared Security nghĩa là một Token hoặc Application cụ thể chạy trên một cơ sở hạ tầng nhất định không thể tự do lựa chọn mô hình bảo mật của mình, mà phải tuân theo mọi yêu cầu bảo mật do cơ sở hạ tầng đó cung cấp. Tất cả các Layer1, Layer2 đều có Shared Security, Layer0 cũng cần phải có Shared Security chứ không thể là Isolated Security, bởi chỉ như vậy mới có thể cung cấp nền tảng bảo vệ thống nhất cho người dùng cuối, bất kể họ đang dùng ứng dụng nào, bất kể chiến lược bảo mật nội bộ của ứng dụng đó ra sao. Chính chữ “cơ sở” trong “cơ sở hạ tầng” ám chỉ điều này.
Hơn nữa, mô hình Optimistic Oracle nói trên có những giả định tin cậy nghiêm ngặt, người dùng cuối buộc phải tin rằng Oracle sẽ không xác minh bừa bãi. Lúc này, Oracle đóng vai trò bên thứ ba đáng tin cậy (A Third Trusted Party) trong mô hình này. Người dùng phải tin rằng Oracle và Relayer sẽ không cấu kết làm hại để chiếm đoạt tài sản người dùng. Và loại giải pháp này không tạo ra bất kỳ Bằng chứng Gian lận (Fraud Proofs) hay Bằng chứng Hợp lệ (Validity Proofs) nào, cũng không có chuyện kiểm tra Proof trên chuỗi. Những điểm yếu và vấn đề này đã được các nhóm như L2BEAT, Nomad, Way Network từng viết bài chỉ rõ, ở đây không bàn thêm.
Tiếp theo, chúng ta xem xét mô hình phụ Optimistic Verification trong giải pháp OP:
Mô hình này chặt chẽ và cẩn trọng hơn so với Optimistic Oracle nói trên, vì nó tạo ra Fraud Proofs. Tin nhắn được ký một cách lạc quan trên chuỗi nguồn, và mạng lưới Validator ngoài chuỗi chịu trách nhiệm gửi bằng chứng gian lận lên chuỗi đích trong khoảng thời gian chờ đợi bắt buộc gọi là cửa sổ lạc quan (Optimistic Window - Timeout Period). Trong khoảng thời gian này, tin nhắn gian lận có thể bị thách thức. Nếu phát hiện lỗi, Validator có thể kiểm tra, bác bỏ tin nhắn và ngăn chặn mọi giao dịch gian lận. So với mạng xác thực bên ngoài của sản phẩm thế hệ đầu tiên dựa vào giả định đa số trung thực, thì Optimistic Verification chỉ dựa vào giả định tồn tại một Validator trung thực. Việc xác minh lạc quan chỉ cần một Validator trung thực khởi xướng thay đổi là đủ để bảo vệ an toàn hệ thống. Tuy nhiên, điểm đánh đổi (tradeoff) chính là độ trễ do khoảng thời gian chờ này gây ra. May mắn là độ trễ này không dài như opRollup, không cần chờ 7 ngày, mà chỉ vài chục phút, ví dụ Nomad đặt khoảng thời gian chờ là 30 phút.
Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét zkOmnichain – phần quan trọng nhất:
Mô hình này thuộc Zero-Knowledge Verification, có độ bền vững (robustness) tốt hơn.
zkOmnichain giống như zkRollup, cũng tạo ra Bằng chứng Hợp lệ (Validity Proofs). Một bước quan trọng là gọi module Giao thức Kiểm tra Tổng (Sum-Check Protocol), thực hiện chứng minh ngoài chuỗi (Sum), và xác minh trên chuỗi (Check). Qua quá trình kiểm tra nghiêm ngặt bằng toán học và mật mã học này, đạt được tính toàn vẹn (Completeness) và tính đúng đắn (Soundness).
Về tính ngắn gọn (Succinctness), có thể dùng Groth16 để nén further kích thước Proof. Ví dụ, kích thước Proof gốc do zkSpark của Way Network tạo ra khoảng 100KB, nhưng sau khi nén bằng Groth16 có thể giảm xuống còn 130B.

Hình 4 : Way Network zkPark Sum-Check Protocol
Chính nhờ có loại giao thức tương tác toàn chuỗi "mật mã mạnh" như zkOmnichain, chúng ta cuối cùng mới có thể đạt được tiêu chuẩn cao nhất của sản phẩm cơ sở hạ tầng, tức là loại bỏ mọi chủ thể đáng tin cậy bên thứ ba để đạt được tính phi tín nhiệm (Trustless), loại bỏ mọi chủ thể đặc quyền tập trung để đạt được tính phi tập trung (Decentralized).
Với sự xuất hiện của zkOmnichain, chúng ta cuối cùng đã nhìn thấy khả năng chuyển đổi từ “chuỗi” thành “mạng”, nhìn thấy khả thi trong việc xây dựng một cơ sở hạ tầng Layer0 hỗ trợ triển khai quy mô lớn các ứng dụng toàn chuỗi lên mọi blockchain hợp đồng thông minh.
Ứng dụng toàn chuỗi dựa trên zkOmnichain sẽ mang lại những thay đổi gì?
-
Thứ nhất, loại bỏ chuỗi trung gian (Intermediate Chain) vốn có trong các sản phẩm跨链 thế hệ đầu, cắt giảm chi phí vận hành nút xác thực đắt đỏ;
-
Thứ hai, loại bỏ Intermediate Token (token trung gian) và Wrapped/Pegged Token (token phái sinh), người dùng không cần phải tin tưởng vào các token này để thực hiện giao dịch xuyên chuỗi với Native Token.
-
Cuối cùng, loại bỏ Oracle – chủ thể đáng tin cậy bên thứ ba – hành động này góp phần nâng cao độ bền cho mạng toàn chuỗi.
Ứng dụng toàn chuỗi dựa trên zkOmnichain không phụ thuộc vào chuỗi trung gian, cũng không phụ thuộc vào oracle, đồng thời không có token trung gian hay token phái sinh. Nó sử dụng toán học và mật mã học chặt chẽ để tạo ra bằng chứng hợp lệ, và xác minh trên chuỗi nhằm đạt mục tiêu phi tập trung (Decentralized) và phi tín nhiệm (Trustless), từ đó thực hiện giao tiếp toàn chuỗi kiểu peer-to-peer giống như mạng Bitcoin.
Từ Singlechain đến Multichain rồi đến Omnichain, đây là xu hướng cơ bản của làn sóng lớn Web3, lúc đó các ứng dụng toàn chuỗi sẽ không còn thưa thớt như hiện nay, mà sẽ trở nên phổ biến. Các ứng dụng dựa trên zkOmnichain có mức độ an toàn xuyên chuỗi cao hơn, chi phí giao tiếp thấp hơn và tốc độ giao tiếp nhanh hơn, do đó dễ dàng thành công hơn.

Hình 5 : Ứng dụng toàn chuỗi dựa trên zkOmnichain
Trong khoảng thời gian gần đây, các giao thức tương tác toàn chuỗi nhằm kết nối các blockchain thành một Web3 thực sự liên tục xuất hiện. Theo ngữ cảnh Web2, Cosmos tương đương việc xây dựng một Mạng diện rộng (LAN), còn Way Network hướng tới xây dựng Mạng diện rộng (WAN) hay thậm chí Internet.
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng sản phẩm loại này không nằm ở số lượng chuỗi mà giao thức có thể kết nối hay các yếu tố khác, mà nằm ở việc phương thức kết nối có đạt được sự đồng thuận Nakamoto hay không, tức là Decentralized và Trustless, bởi đây mới là “1”, còn các yếu tố khác chỉ là “0”. Không có 1, thì dù có nhiều 0 đến đâu cũng vô nghĩa.
Kết luận
Có thể dự đoán, ứng dụng toàn chuỗi sẽ dần thay thế ứng dụng đơn chuỗi/đa chuỗi trong vòng ba năm tới, trở thành mô hình triển khai phổ biến của ứng dụng Web3, và giao thức tương tác zkOmnichain chính là công nghệ then chốt và cơ sở hạ tầng thiết yếu để hiện thực hóa quá trình này.
Rất nhanh thôi, chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện ồ ạt như nấm sau mưa của các ứng dụng AMM toàn chuỗi, ứng dụng cho vay toàn chuỗi, SocialFi toàn chuỗi, NFT toàn chuỗi... dựa trên nền tảng zkOmnichain.
Chào mừng tham gia cộng đồng chính thức TechFlow
Nhóm Telegram:https://t.me/TechFlowDaily
Tài khoản Twitter chính thức:https://x.com/TechFlowPost
Tài khoản Twitter tiếng Anh:https://x.com/BlockFlow_News














